Tin tức
 
Theo khoản 1 - Điều 2 Luật công chứng năm 2014: "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ...
 
Trong hoạt động công chứng, ngoài việc kiểm tra năng lực của người yêu cầu công chứng, việc tiếp nhận, kiểm tra các loại giấy tờ liên quan như giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn khác liền với đất … cũng rất quan trọng, góp phần bảo đảm tính an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp phát sinh. Theo quy ...
 
Hiện nay, tình hình cháy, nổ diễn ra phức tạp ở nhiều nơi, gây thiệt hại đến vật chất và tính mạng của con người. Vì vậy công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy luôn được tăng cường đã làm chuyển biến nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy ...
 
​Xem nội dung kết luận cụ thể chọn vào tập tin bên dướiKet luan thanh tra cong chung (da hoan chinh)_Signed.rar
 
​Hướng tới các hoạt động kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2020), Hội Công chứng viên tỉnh Tây Ninh kết hợp với Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp quyết định trao tặng 01 căn nhà Đại đoàn kết cho 01 hộ nghèo tại ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Đây cũng là một trong những hoạt động nhằm hướng tới thực hiện phong trào thi đua "Cả nước ...
 
Sáng ngày 27/4/2020, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ trao Quyết định thôi việc đối với viên chức lãnh đạo cho bà Nguyễn Thị Đào, Trưởng Phòng Công chứng số 1 trực thuộc Sở Tư pháp. Đến tham dự buổi lễ có Ban Giám đốc Sở Tư pháp và các đồng chí lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở.Ông Nguyễn Hoàng Nam - Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp trao Quyết địnhthôi việc cho bà ...
 
​​​Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, ...
 
Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dướiQD 1437.rar
 
​Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dướicv 1438.rar
 
​Xem nội dụng cụ thể chọn vào tập tin bên dưới1326.rar
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Một số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Một số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Theo đó, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã bổ sung thêm một số điểm mới cơ bản như sau:

- Thứ nhất, thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định.

Tại khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định: "Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định theo quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật…".

Trước đây, theo quy định thì Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định theo quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật. Theo đó, khoản 1 Điều 121 của Luật là quy định liên quan đến "dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình". Hay nói cách khác, Hội đồng tư vấn thẩm định chỉ được thành lập "đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo".

Tuy nhiên, quy định hiện hành đã bổ sung thêm trường hợp thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định "đối với quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật". Cụ thể là, khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định như sau: "1. Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo nghị quyết, quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo quy định tại khoản 1 Điều 121 và khoản 1 Điều 130 của Luật…".

Theo đó, Hội đồng tư vấn thẩm định sẽ được thành lập đối với dự thảo nghị quyết, quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo mà không phải chỉ thảnh lập Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo nghị quyết như trrước đây.

- Thứ hai, kỹ thuật viện dẫn văn bản.

Tại khoản 1 Điều 75 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định như sau: "Khi viện dẫn văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành văn bản; tên cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và tên gọi văn bản".

Về nguyên tắc, khi viện dẫn văn bản có liên quan thì phải viện dẫn đầy đủ. Theo đó, trên cơ sở quy định này, thì việc viện dẫn văn bản phải viện dẫn đầy đủ mà không phân biệt "viện dẫn lần đầu" hay "viện dẫn lần tiếp theo".

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 75 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16  Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định:

 "1. Khi viện dẫn lần đầu văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành văn bản; tên cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và tên gọi văn bản. Trong lần viện dẫn tiếp theo, đối với luật, pháp lệnh, ghi đầy đủ tên loại văn bản, tên gọi của văn bản; đối với các văn bản khác, ghi tên loại, số, ký hiệu của văn bản đó".

Theo đó, trên cơ sở quy định hiện hành, khi "viện dẫn lần đầu" thì phải ghi đầy đủ nhưng đến "lần viện dẫn tiếp theo" thì có thể viện dẫn ngắn gọn hơn mà không cần phải chú thích viết tắt./.

                                                                                                   Ngọc Giàu

1/15/2021 4:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinNgọc GiàuMột số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật /HoatDongAnh/2021-01/giau15_Key_15012021154250.1_Key_15012021154250.2021_Key_15012021154250.2_Key_15012021154250.jpg
1/15/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020Công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020

Thực hiện Kế hoạch số 2843/KH-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020 (Quyết định số 143/QĐ-UBND). Theo đó, số văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ là 45 văn bản (07 Nghị quyết và 38 Quyết định) và hết hiệu lực một phần là 15 văn bản (15 Quyết định).

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.

                                                                              Phòng XDKT&QLTTPL

 

KH 238 ub.signed.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinKim NgọcCông bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021142544.1_Key_03022021142544.2021_Key_03022021142544.12_Key_03022021142544.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Mức trần chi phí chứng thực và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Tây NinhMức trần chi phí chứng thực và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 22/7/2016, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 24/2016/QĐ-UBND quy định mức trần chi phí chứng thực và thù lao dịch thuật các giấy tờ, tài liệu liên quan đến công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 1039/2005/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy định tạm thời mức thu và quản lý sử dụng tiền thu dịch vụ của hoạt động công chứng, chứng thực và Quyết định số 32/2009/QĐ-UBND ngày 26/3/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc quy định mức thù lao dịch thuật các giấy tờ, tài liệu liên quan đến công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Quy định này quy định mức trần chi phí chứng thực đối với Phòng Tư pháp các huyện, thành phố (gọi tắt là cấp huyện) và Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn (gọi tắt là cấp xã) và mức thù lao dịch thuật các giấy tờ, tài liệu liên quan đến công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Theo đó, đối tượng nộp là tổ chức, cá nhân khi yêu cầu cơ quan thực hiện chứng thực in, chụp (photocopy), đánh máy giấy tờ, văn bản; yêu cầu Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc cộng tác viên dịch thuật dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc dịch từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài.

Cơ quan, đơn vị, cá nhân thu là Ủy ban nhân dân cấp xã, Phòng Tư pháp cấp huyện và các cộng tác viên dịch thuật trên địa bàn tỉnh. Cụ thể như sau:

1. Mức trần chi phí chứng thực đối với việc đánh máy giấy tờ, văn bản (bao gồm in văn bản): 10.000 đồng/trang giấy A4;  In giấy tờ, văn bản: Giấy A4 là 1.000đ/trang, Giấy A3 là 2.000đ/trang; Chụp (photocopy) giấy tờ, văn bản:  Giấy A4 là  500đ/trang; Giấy A3 là 1.000đ/trang.

2. Mức trần thù lao dịch thuật đối với việc dịch từ tiếng Anh hoặc tiếng của một nước khác thuộc nhóm EU sang tiếng Việt: 120.000đ/trang/350 từ;

+ Dịch từ ngôn ngữ không phổ thông sang tiếng Việt: 150.000đ/trang/350 từ;

+ Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc tiếng của một nước khác thuộc nhóm EU: 150.000đ/trang/350 từ; 

+ Dịch từ tiếng Việt sang ngôn ngữ không phổ thông: 170.000đ/trang/350 từ;  

Trường hợp dịch chưa tới ½ trang, mức thu được tính bằng ½ mức thu nêu trên; hơn ½ trang nhưng chưa đủ 01 trang, mức thu được tính bằng 01 trang; Các loại giấy tờ, văn bản đã được mẫu hóa như: khai sinh, khai tử, kết hôn, phiếu Lý lịch tư pháp, giấy Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, hộ khẩu, Học bạ và các loại giấy tờ có tính chất, đặc điểm tương tự thì từ trang thứ hai (02) trở lên sẽ tính bằng ba mươi phần trăm (30%) mức thu bản thứ nhất hoặc trang đầu; trừ các loại giấy tờ, văn bản mang tính chuyên ngành như: quyết định của Tòa án; bản tuyên thệ; di chúc; hợp đồng kinh tế, dân sự; bản án; các văn bản chuyên ngành y khoa, kỹ thuật và các loại giấy tờ, văn bản có hình thức tương tự.

Các đơn vị thu có trách nhiệm quản lý, sử dụng chi phí chứng thực theo quy định; thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước về khoản chi phí chứng thực; lập hóa đơn tài chính cho đối tượng nộp chi phí chứng thực theo quy định của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế.

 Sử dụng số tiền thu được để chi trả tiền công thuê ngoài, chi làm thêm giờ cho cán bộ, công chức tham gia thực hiện công việc in, chụp, đánh máy giấy tờ, văn bản; Chi phí mua văn phòng phẩm, vật tư văn phòng, thông tin liên lạc, điện, nước và các khoản chi khác liên quan trực tiếp đến việc in, chụp, đánh máy giấy tờ, văn bản; Chi mua sắm, sửa chữa thường xuyên tài sản, trang thiết bị phục vụ trực tiếp cho thực hiện in, chụp, đánh máy giấy tờ, văn bản;

Sau khi trang trải các khoản chi phí quy định trên, phần kinh phí còn lại bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên thực hiện chế độ tự chủ của cơ quan, đơn vị./.

 

   Phòng Bổ trợ tư pháp

8/4/2016 10:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinBTTPMức trần chi phí chứng thực và thù lao dịch thuật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/4/2016 10:00 AMYesĐã ban hành
UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnhUBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh
Ngày 08 tháng 12 năm 2016 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/02/2016 và bãi bỏ Quyết định số 2572/QĐ-UBND ngày 10/02/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định tiêu chí và cách thức thẩm định hồ sơ thành lập các tổ chức hành nghề công chứng giai đoạn 2014-2015 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Theo đó Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã quy định cụ thể về vị trí đặt trụ sở văn phòng công chứng, tiêu chí về trụ sở, cơ sở vật chất và các tiêu chí khác về công chứng viên, thư ký nghiệp vụ, nhân sự về kế toán công nghệ thông tin và lưu trữ,… Ngoài ra, tại điều khoản chuyển tiếp cũng đã quy định rõ về các tổ chức hành nghề công chứng đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được thành lập trước ngày Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND có hiệu lực thi hành khi có nhu cầu thay đổi nội dung giấy đăng ký hoạt động, trong đó có thay đổi địa chỉ trụ sở văn phòng công chứng thì phải đảm bảo các tiêu chí quy định tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 của Quy định này.

Nội dung cụ thể như sau:

1. Về vị trí dự kiến đặt trụ sở Văn phòng công chứng

1. Vị trí đảm bảo khoảng cách ít nhất từ 01km trở lên so với Văn phòng  công chứng hiện tại có trên địa bàn theo quy hoạch đã được phê duyệt.

2. Vị trí thuận lợi cho việc liên hệ của người dân, không gây ách tắc giao thông.

2. Về trụ sở Văn phòng công chứng: Tổng diện tích sử dụng hành nghề của Văn phòng công chứng: tối thiểu Từ 100 m2 trở lên.

- Trụ sở Văn phòng Công chứng thuộc quyền sở hữu của một trong các công chứng viên hợp danh hoặc thuộc quyền sở hữu chung của các Công chứng viên tham gia thành lập hoặc có hợp đồng thuê, mượn có thời hạn thuê ít nhất từ đủ từ 05 năm trở lên.

- Tổ chức bố trí, trụ sở Văn phòng công chứng

Trụ sở của Văn phòng công chứng cần được bố trí thành các khu vực (phòng) khoa học, phù hợp, đảm bảo trật tự, an toàn, thuận lợi cho người dân đến giải quyết hồ sơ công chứng; tổ chức, bố trí về vị trí giữ xe có diện tích giữ xe phải đảm bảo phù hợp theo tiêu chí; địa điểm giữ thuận lợi, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông; có phương án phòng chống cháy nổ, . . .

3. Về Cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin: Có dự kiến trang bị máy vi tính và các trang bị cần thiết để làm việc (bàn, ghế, tủ, kệ  đựng hồ sơ, nước uống cho khách hàng, ghế ngồi chờ và các trang thiết bị cần thiết khác) đảm bảo cho hoạt động của Văn phòng công chứng; có kho lưu trữ; có dự kiến thiết kế trang web và kết nối internet; có phương án đầu tư xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu công chứng và phần mềm quản lý nghiệp vụ, quản lý kế toán.

Ngoài ra, Quy định còn có tiêu chí về số lượng Công chứng viên; kinh nghiệm của Công chứng viên liên quan đến hoạt động công chứng; tiêu chí về thư ký nghiệp vụ; về nhân sự phụ trách kế toán; nhân sự phụ trách Công nghệ thông tin; nhân sự phụ trách lưu trữ; về xây dựng quy trình nghiệp vụ công chứng và quy trình lưu trữ hồ sơ công chứng; cộng tác viên dịch thuật; về khả năng quản trị Văn phòng công chứng; về tính khả thi của Đề án xin thành lập Văn phòng công chứng và quy trình xét duyệt, xét chọn hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng Công chứng.

Quy định trên là nhằm để đảm bảo việc thẩm định hồ sơ thành lập tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh được công khai, minh bạch, khách quan, phù hợp quy hoạch và đúng quy định của pháp luật./.

P. BỔ TRỢ TƯ PHÁP

3/6/2017 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinBTTPUBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 08 tháng 12 năm 2016 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 44/2016/QĐ-UBND Quy định về tiêu chí và quy trình xét duyệt hồ sơ đề nghị thành lập văn phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/02/2016 và bãi bỏ Quyết định số 2572/QĐ-UBND ngày 10/02/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định tiêu chí và cách thức thẩm định hồ sơ thành lập các tổ chức hành nghề công chứng giai đoạn 2014-2015 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
3/6/2017 9:00 AMYesĐã ban hành
Hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây NinhHoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 238/KH-UBND thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo Kế hoạch thì nhiều hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2021 tiếp tục được thực hiện như:

- Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật: Duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh, trừ văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật:

+ Nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình sản xuất, kinh doanh và hội nhập của doanh nghiệp.

+ Tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các quy định pháp luật để tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật.

- Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp: Thực hiện giải đáp pháp luật theo yêu cầu của doanh nghiệp với các hình thức như bằng văn bản, thông qua mạng điện tử, giải đáp trực tiếp, thông qua điện thoại và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật: Các cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.

- Xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật: Giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp ngay sau khi văn bản được ban hành.

- Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện pháp luật: Tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các quy định pháp luật để tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật. Tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên để kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung những quy định không phù hợp, gây phiền hà cho doanh ngiệp./.

                                                                                               Trần Ngọc

KH 238 ub.signed.rar

1/28/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcHoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2021-01/ngoc11_Key_28012021144009.1_Key_28012021144009.2021_Key_28012021144009.11_Key_28012021144009.jpg
1/28/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

Đấu giá tài sản thanh lý của Tỉnh Đoàn Tây Ninh, như sau:

- 01 chiếc xe ô tô 15 chỗ ngồi hiệu Toyota Haice, biển số 70B-0487, số máy 2RZ-3142973, số khung RZH115-3001334, năm-nước sản xuất: 2003-Việt Nam.

- Giá khởi điểm: 53.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 8.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 22/02/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 03&04/02/2021, tại nơi có tài sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 25/02/2021 (thứ năm).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

1/26/2021 11:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-01/hinh dau gia 3_Key_26012021102140.jpg
1/26/2021 11:00 AMNoĐã ban hành
Mục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025Mục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 – 2025 tại Quyết định số 81/QĐ-TTg. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Theo đó, mục tiêu Chương trình đề ra nhằm triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả, thiết thực Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12 tháng 6 năm 2017, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kế thừa, phát huy kết quả của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2020. Chương trình được phê duyệt nhằm: triển khai đồng bộ, hiệu quả, công khai, minh bạch, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp; bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực; định hướng cho các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, ngành, địa phương; nâng cao hiểu biết, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro, vướng mắc pháp lý trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy sự tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật kịp thời nhằm phục vụ doanh nghiệp phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.

          Bên cạnh các mục tiêu chung thì Chương trình cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể để thực hiện các nội dung của Quyết định như sau:

Cung cấp thông tin pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm: xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng 01 cơ sở dữ liệu về vụ việc, vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; cung cấp các chính sách, đề án, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, ngành, địa phương; tiếp nhận 100% phản ánh từ doanh nghiệp nhỏ và vừa để đề xuất, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vướng mắc, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả.

Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho: tối thiểu 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro pháp lý trong kinh doanh; tối thiểu 60% người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm: tư vấn trực tiếp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; tư vấn pháp luật qua diễn đàn, đối thoại và các hoạt động tư vấn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo 100% đề nghị tư vấn của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua Chương trình được giải quyết hoặc kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết./.

                                                                   Phòng XDKT&QLTTPL

 

81.rar


1/28/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcMục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025/HoatDongAnh/2021-01/ngoc11_Key_28012021143642.1_Key_28012021143642.2021_Key_28012021143642.10_Key_28012021143642.jpg
1/28/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  và Liên minh Châu ÂuQuy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  và Liên minh Châu Âu

Ngày 25 tháng 01 năm 2021, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 07/2021/TT-BTC quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu. Theo đó, tại Điều 3 quy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu như sau:

1. Thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu:

a) Người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm làm thủ tục hải quan theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

b) Trường hợp chưa có chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu tại thời điểm làm thủ tục hải quan để áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA, người khai hải quan phải khai chậm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ trên tờ khai hải quan nhập khẩu và được khai bổ sung, nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong thời hạn không quá 02 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan nhập khẩu và trong thời hạn hiệu lực của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

c) Trường hợp người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ sau thời hạn hiệu lực quy định tại điểm b khoản 1 Điều này vì lý do bất khả kháng hoặc các lý do hợp lệ khác nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nhập khẩu hoặc các trường hợp xuất trình muộn khác, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) xem xét, quyết định việc áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA đối với các trường hợp cụ thể. Đối với trường hợp xuất trình muộn khác, hàng hóa phải được nhập khẩu trong thời hạn hiệu lực của chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa.

2. Việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa để áp dụng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA thực hiện theo Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Thông tư số 62/2020/TT-BTC ngày 05/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 38/2018/TT-BTC và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11 tháng 3 năm 2021.

Đối với các tờ khai hải quan của mặt hàng nhập khẩu đăng ký từ ngày 01 tháng 8 năm 2020 đến trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, nếu đáp ứng đủ các quy định để được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định EVFTA, Nghị định số 111/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020 của Chính phủ quy định Biểu thuế xuất khẩu ưu đãi, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định EVFTA giai đoạn 2020-2022 và đã nộp thuế theo mức thuế cao hơn mức thuế quy định tại Hiệp định EVFTA và Nghị định số 111/2020/NĐ-CP thì người khai hải quan nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ cho cơ quan hải quan để được xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định của pháp luật về quản lý thuế./.

                                                                                                                                                                                     Phòng XDKT&QLTTPL (KN)

Thông tư 07.2021-TT-BTC.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinKim NgọcQuy định thời điểm nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa nhập khẩu trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam  và Liên minh Châu Âu/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021144347.1_Key_03022021144347.2021_Key_03022021144347.14_Key_03022021144347.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Quy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triểnQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Ngày 30/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (viết tắt là Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg).

Theo đó, các Phụ lục kèm theo Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg quy định có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Trong trường hợp công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao không thuộc các Danh mục như đã nêu tại Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg, nhưng đáp ứng các quy định khác tại Luật Công nghệ cao, có tính cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021 và thay thế Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, Quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Quyết định số 34/2019/QĐ-TTg ngày 18/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định tiêu chí xác định dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ./.

                                                                   Phòng XDKT&QLTTPL

 

QĐ số 38_2020_QD-TTg.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinKim NgọcQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021142907.1_Key_03022021142907.2021_Key_03022021142907.13_Key_03022021142907.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Sở Tư pháp tổ chức thăm hỏi, chúc tết các đơn vị được đỡ đầuSở Tư pháp tổ chức thăm hỏi, chúc tết các đơn vị được đỡ đầu

Tiếp tục thực hiện Quyết định số 3336/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND tỉnh về việc phân công các huyện, thành phố phía sau và các Sở, ngành tỉnh đỡ đầu, hỗ trợ các Đồn Biên phòng và các xã biên giới; nhân dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, Sở Tư pháp tổ chức thăm hỏi, chúc tết, động viên các Chiến sĩ đồn Biên phòng Vàm Trảng Trâu, huyện Châu Thành và UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tham dự Chương trình, về phía Sở Tư pháp có ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở; đại diện Công đoàn, Chi đoàn Sở Tư pháp. Về phía Đồn Biên phòng Vàm Trảng Trâu, có Trung tá Võ Hoài Thanh - Đồn trưởng Đồn Biên phòng và các cán bộ, chiến sĩ của Đồn. Về phía xã Ninh Điền, có ông Nguyễn Văn Chủng - Bí thư, ông Nguyễn Hoàng Phúc - Chủ tịch UBND xã.

 dv01.2021.2.1.jpg

Sở Tư pháp trao quà cho Đồn Biên phòng Vàm Trảng Trâu

Để tri ân các chiến sỹ ngày đêm ra sức bảo vệ các tuyến đầu của vùng biên giới, các chiến sĩ trực chiến 24/24 tại các chốt phòng chống dịch Covid 19, Sở Tư pháp đã trao 01 phần quà và tiền mặt trị giá 5.000.000 đồng, góp phần động viên, khuyến khích các chiến sĩ xa nhà có thêm kinh phí đón tết. Sở Tư pháp hy vọng đây sẽ là động lực để các chiến sĩ của Đồn có thêm niềm tin, sức mạnh để vững bước trên những tuyến đường biên giới, bảo vệ chủ quyền biên giới, bảo vệ quê hương, đất nước.

 dv01.2021.2.2.jpg

Sở Tư pháp trao quà cho UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành

Cùng ngày, Sở Tư pháp cũng tổ chức thăm và tặng một phần quà tết cho UBND xã Ninh Điền, huyện Châu Thành, chúc Lãnh đạo, cán bộ, công chức Đảng ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam xã và Nhân dân xã Ninh Điền đón tết vui vẻ, an toàn, tiết kiệm và sẽ luôn cố gắng phấn đấu, hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

(Đắc Hiển)


2/4/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnSở Tư pháp tổ chức thăm hỏi, chúc tết các đơn vị được đỡ đầu/HoatDongAnh/2021-02/dv01_Key_04022021093404.2021_Key_04022021093404.2_Key_04022021093404.2_Key_04022021093404.jpg
2/4/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Sở Tư pháp tổ chức thăm, chúc Tết gia đình các đồng chí nguyên lãnh đạo Sở đã về hưuSở Tư pháp tổ chức thăm, chúc Tết gia đình các đồng chí nguyên lãnh đạo Sở đã về hưu

Thực hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", nhân dịp tết nguyên đán Tân Sửu năm 2021,  Ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Tư pháp cùng đại diện Công đoàn, Chi đoàn và một số lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở đã tới thăm, chúc Tết gia đình các đồng chí nguyên lãnh đạo Sở Tư pháp đã về hưu.

lanhdaovehuu.jpg 

Sở Tư pháp thăm, chúc tết đồng chí Nguyễn Văn Rộng - nguyên Giám đốc Sở Tư pháp

Thay mặt Sở Tư pháp, Ông Nguyễn Hoàng Nam đã chia sẻ với các đồng chí lãnh đạo về hưu những thành tựu mà Sở, ngành Tư pháp tỉnh Tây Ninh đã đạt được trong năm vừa qua. Ông Nguyễn Hoàng Nam cũng khẳng định, mặc dù còn nhiều khó  khăn, thách thức nhưng tập thể công chức, viên chức và người lao động ngành Tư pháp luôn nỗ lực làm việc, sáng tạo, phát huy được thành quả của các thế hệ đi trước, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tình cảm của lãnh đạo, cán bộ, công chức ngành Tư pháp, các đồng chí nguyên Lãnh đạo Sở Tư pháp cũng gửi lời chúc sức khỏe và tin tưởng vào sự đoàn kết, sáng tạo, đổi mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của toàn ngành, đồng thời chúc toàn thể công chức, viên chức, người lao động của ngành Tư pháp tỉnh Tây Ninh một năm mới an lành, vui tươi và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

(Đắc Hiển)

2/8/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnĐắc HiểnSở Tư pháp tổ chức thăm, chúc Tết gia đình các đồng chí nguyên lãnh đạo Sở đã về hưu/HoatDongAnh/2021-02/lanhdaovehuu_Key_08022021091021.jpg
2/8/2021 10:00 AMNoĐã ban hành
Mục tiêu Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030Mục tiêu Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030

Ngày 05 tháng 02 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg về việc ban hành Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, theo đó mục tiêu cụ thể Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030 được đề ra như sau:

1. Tăng số lao động có kỹ năng phù hợp với nhu cầu thị trường lao động:

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30% vào năm 2025 và đạt 35-40% vào năm 2030;

- Chỉ số Lao động có kiến thức chuyên môn trong Chỉ số đổi mới, sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 60 nước đứng đầu vào năm 2025 và thuộc nhóm 55 nước đứng đầu vào năm 2030;

- Tỷ lệ lao động có các kỹ năng công nghệ thông tin đạt 80% năm 2025 và 90% năm 2030.

2. Tạo việc làm tốt hơn cho người lao động:

- Phấn đấu duy trì tỷ lệ thất nghiệp chung ở mức thấp dưới 3%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%;

- Tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp đến năm 2025 dưới 30% và đến năm 2030 dưới 20%;

- Tốc độ tăng năng suất lao động hàng năm đạt tối thiểu 6,5%/năm.

3. Giảm tỷ lệ thanh niên không có việc làm, không đi học hoặc không được đào tạo:

- Phấn đấu giảm tỷ lệ thanh niên không có việc làm, không đi học hoặc không được đào tạo dưới 8%;

- Duy trì tỷ lệ thất nghiệp thanh niên thành thị ở mức thấp dưới 7%, tỷ lệ thiếu việc làm của thanh niên nông thôn dưới 6%.

4. Đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho người lao động:

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội đạt 45% vào năm 2025 và đạt 60% năm 2030, trong đó nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chiếm khoảng 2,5% lực lượng lao động vào năm 2025 và chiếm khoảng 5% lực lượng lao động vào năm 2030.

5. Đầu tư, phát triển giao dịch việc làm, hệ thống thông tin thị trường lao động quốc gia hiện đại, đồng bộ, thống nhất và có sự liên thông giữa các hệ thống thông tin, cụ thể:

- Năm 2025 có 80% và năm 2030 có trên 90% học sinh, sinh viên tốt nghiệp trung học phổ thông được hướng nghiệp;

- Năm 2025 có 40% và năm 2030 có 45% lao động được hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm tư vấn, giới thiệu có việc làm;

- Đến năm 2025, hoàn thành việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật, các phần mềm ứng dụng, hệ thống kết nối, chia sẻ tích hợp dữ liệu và thực hiện chuyển đổi, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động.

Từ năm 2026, đưa cơ sở dữ liệu quốc gia về lao động vào quản lý và khai thác sử dụng, kết nối chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Đến năm 2030, hệ thống thông tin thị trường lao động được hiện đại hóa, dữ liệu được liên thông giữa các vùng trên toàn quốc và mở rộng kết nối với các nước trong khu vực ASEAN, đặc biệt tại một số nước là thị trường lao động chính của Việt Nam vào năm 2030.

Để đạt được các mục tiêu cụ thể trên thì phải thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp sau:

1. Hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật đồng bộ, thống nhất để thị trường lao động phát triển theo hướng hiện đại.

2. Hỗ trợ phát triển cung - cầu lao động.

3. Hỗ trợ phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động, kết nối cung - cầu lao động.

4. Hỗ trợ phát triển lưới an sinh và bảo hiểm.

5. Hỗ trợ kết nối thị trường lao động trong và ngoài nước, phát triển các thị trường lao động đặc thù.

6. Nâng cao hiệu quả tổ chức, vận hành thị trường lao động./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

176_QD-TTg_05022021_2-signed.rar


2/19/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcMục tiêu Chương trình hỗ trợ phát triển thị trường lao động đến năm 2030/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_19022021084245.1_Key_19022021084245.2021_Key_19022021084245.15_Key_19022021084245.jpg
2/19/2021 9:00 AMNoĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản

 

1) Đấu giá tài sản thanh lý của UBND Thành phố Tây Ninh

- 01 chiếc xe ô tô 12 chỗ ngồi, nhãn hiệu Toyota Haice Super Wagon, biển số 70B-0317, số khung RZH114-9007076, số máy 1RZ-2486364, màu sơn: xám, năm-nước sản xuất: 2000-Việt Nam.

- Giá khởi điểm: 20.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 3.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 100.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 08/3/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 02&03/3/2021, tại nơi có tài sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 11/3/2021 (thứ năm).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

2) Đấu giá tài sản thanh lý của Sở Khoa học và Công Nghệ Tây Ninh

- 01 chiếc xe ô tô 16 chỗ ngồi hiệu Toyota Haice, biển số 70B-0498, số máy 2TR-6171795, số khung JTFRX12P-909000374, năm-nước sản xuất: 2005-Việt Nam.

- Giá khởi điểm: 88.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 14.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 09/3/2021 (thứ ba). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 02&03/3/2021, tại nơi có tài sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 12/3/2021 (thứ sáu).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. 

3) Đấu giá tài sản thanh lý của Công ty Cổ phần cao su 1-5 Tây Ninh, như sau:

a. Vật tư thu hồi tháo dỡ nhà máy Latex gồm: Công trình xây dựng, dây chuyền máy móc thiết bị, công cụ dụng cụ phụ tùng của nhà máy.

- Giá khởi điểm: 6.253.974.572 đồng. Tiền đặt trước: 940.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

b. Thiết bị, phương tiện vận tải Khu vực Nông trường Suối Dây, Nhà máy Latex, Nhà máy Hiệp Trường, khu vực Văn phòng Công ty CP cao su 1-5 Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 1.864.123.250 đồng. Tiền đặt trước: 280.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao giấy phép kinh doanh.

Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 09/3/2021 (thứ ba). Xem tài sản trực tiếp vào 02 ngày làm việc 02&03/3/2021, tại nơi có tài sản.

Tổ chức đấu giá: 10 giờ, ngày 12/3/2021 (thứ sáu).

Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. 

4) Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất ONT diện tích 291,3m2; thửa số 1460; tờ bản đồ 27; tọa lạc tại: ấp Trâm Vàng 3, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 5.172.614.000 đồng. Tiền đặt trước: 517.262.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 15/3/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 18/3/2021 (thứ năm), tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Gò Dầu.

- Địa điểm đăng ký mua hồ sơ: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


2/19/2021 2:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-02/hinh dau gia 3_Key_19022021134654.jpg
2/19/2021 2:00 PMNoĐã ban hành
Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng  tỉnh Tây Ninh ban hành kế hoạch hoạt động năm 2020Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng  tỉnh Tây Ninh ban hành kế hoạch hoạt động năm 2020

Nhằm tiếp tục triển khai có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam (các Bộ luật, luật tố tụng) và các văn bản hướng dẫn thi hành; đặc biệt là kịp thời triển khai có hiệu quả Thông tư liên tịch số: 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (viết tắt là Thông tư liên tịch số 10), Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh (viết tắt là Hội đồng) ban hành Kế hoạch phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020 (sau đây viết tắt là Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định rõ nội dung công việc nhằm tăng cường triển khai có hiệu quả Thông tư liên tịch số 10. Từ đó, nâng cao chất lượng, số lượng vụ việc TGPL được thực hiện bằng hình thức tham gia tố tụng, bảo đảm các đối tượng thuộc diện được TGPL được kịp thời cung cấp thông tin và dịch vụ TGPL với chất lượng tốt. Đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của Hội đồng và các ngành thành viên của Hội đồng trong việc tham mưu chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công tác phối hợp TGPL trong ngành mình, đặc biệt trong việc triển khai Thông tư liên tịch số 10. Thực hiện đúng, hiệu quả cơ chế phối hợp và trao đổi thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trại Tạm giam và Nhà Tạm giữ với Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trong việc triển khai công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng.

Các hoạt động của Kế hoạch năm 2020 tập trung vào một số nhiệm vụ sau:

1. Giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo Điều 7 của Thông tư liên tịch số 10: Các ngành thành viên của Hội đồng chỉ đạo các cơ quan, người có thẩm quyền tiền hành tố tụng trên địa bàn tỉnh thuộc quyền quản lý thực hiện giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo quy định tại Điều 7 của Thông tư liên tịch số 10.

2. Thực hiện truyền thông về TGPL để nâng cao nhận thức của cán bộ, người dân và người được TGPL

a) Thường xuyên theo dõi, kiểm tra để thay thế Bảng thông tin về TGPL, Tờ thông tin về TGPL, Hộp tin TGPL tại trụ sở các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ở cấp tỉnh, cấp huyện, Trại Tạm giam và Nhà Tạm giữ khi không còn sử dụng được (đặt tại nơi người dân có thể dễ dàng đọc được thông tin về TGPL, bảo đảm hiệu quả truyền thông).

b) Kiểm tra việc sử dụng USB có chứa nội dung thông tin về TGPL để truyền thông về TGPL qua các phương tiện truyền thanh của Trại Tạm giam, Nhà Tạm giữ đã được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cấp phát.

3. Tổ chức kiểm tra kết quả thực hiện công tác phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng: Hội đồng tổ chức kiểm tra việc thực hiện công tác phối hợp về TGPL trong tố tụng tại một số cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh theo yêu cầu của Hội đồng Trung ương. Hình thức kiểm tra thông qua 01 trong 02 hình thức sau: Tự kiểm tra kết quả thực hiện: tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp tỉnh và cấp huyện hoặc là kiểm tra trực tiếp, dự kiến trong năm 2020 sẽ tiến hành kiểm tra 02 cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp huyện trên địa bàn tỉnh.

4. Thống kê, báo cáo việc thực hiện Thông tư liên tịch số 10: Hàng năm, các ngành là thành viên Hội đồng có trách nhiệm báo cáo về kết quả triển khai Thông tư liên tịch số 10 gửi cho Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực của Hội đồng để tổng hợp gửi Hội đồng ở Trung ương.

5. Họp Hội đồng và Tổ giúp việc cho Hội đồng để đánh giá việc triển khai Thông tư liên tịch số 10: Trong năm 2020 Hội đồng sẽ tổ chức họp Hội đồng và Tổ giúp việc cho Hội đồng để đánh giá việc triển khai Thông tư liên tịch số 10 để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy công tác phối hợp liên ngành trợ giúp pháp lý trong tố tụng theo định kỳ 06 tháng và năm 2020.

6. Các hoạt động thường xuyên của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Chỉ đạo các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của cơ sở giam giữ thực hiện trách nhiệm quy định từ Điều 8 - Điều 11 của Thông tư liên tịch số 10. Tổ chức tập huấn cho người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc ngành mình về phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng. Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện phối hợp TGPL trong hoạt động tố tụng thuộc ngành mình quản lý.

7. Các hoạt động của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước: Kiểm tra diện người được TGPL, bảo đảm người được TGPL có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Cử Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện TGPL tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về TGPL và pháp luật tố tụng. Nâng cao chất lượng vụ việc TGPL. Cung cấp lại Bảng thông tin TGPL, Tờ thông tin về TGPL; Hộp tin TGPL (khi bị hư hỏng không sử dụng được), mẫu đơn yêu cầu TGPL và các biểu mẫu theo quy định của Thông tư liên tịch số 10, tờ gấp pháp luật, các tài liệu pháp luật có liên quan về TGPL cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ. Thông báo danh sách Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư thực hiện TGPL của Trung tâm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ. Chi trả thù lao tham gia tố tụng cho người thực hiện TGPL theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Hội đồng tiếp tục thực hiện các hoạt động khác như: Hướng dẫn, giải đáp những vướng mắc trong quá trình triển khai công tác phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa phương; xây dựng dự toán kính phí hoạt động của HỘi đồng và các ngành thành viên năm 2021; củng cố, kiện toàn Hội đồng và Tổ giúp việc cho Hội đồng khi có yêu cầu thay đổi về nhân sự./.


3/23/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLHội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng  tỉnh Tây Ninh ban hành kế hoạch hoạt động năm 2020/HoatDongAnh/2020-03/linh23_Key_23032020144250.3_Key_23032020144250.2020_Key_23032020144250.2_Key_23032020144250.png
3/23/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp (sau đây gọi tắt là Trung tâm). Trung tâm hiện tại có 02 Phòng gồm: Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ, được giao 14 biên chế và hiện có 13 người làm việc. Cơ cấu tổ chức bộ máy gồm: 01 Giám đốc, 01 Phó Giám đốc, 05 Trợ giúp viên pháp lý, 02 chuyên viên, 01 kế toán trưởng, 01 lưu trữ viên trung cấp và 02 hợp đồng lao động để làm công việc tạp vụ và bảo vệ. 100% đội ngũ viên chức của Trung tâm đều có trình độ từ Đại học trở lên.

Để có cơ sở cho việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao, ngay từ đầu năm, bám sát các Chương trình, Kế hoạch công tác của Cục Trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp và điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị, Trung tâm đã tham mưu xây dựng kế hoạch, quyết liệt chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm hoàn thành các nhiệm vụ chính trị đề ra.

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Trung tâm đã tham mưu Sở Tư pháp trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành các Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện tại địa phương, góp phần nâng cao chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý. Chủ động tham mưu và tổ chức thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 theo Kế hoạch số 3135/KH-UBND ngày 02 tháng 11 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Ngoài ra, Trung tâm còn thực hiện việc lựa chọn và ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với các luật sư theo quy định tại Thông tư số 08/2017/TT-BTP ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý.

Công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý kết hợp với tư vấn pháp luật được thực hiện thường xuyên. Năm 2018, Trung tâm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương tổ chức 73 đợt truyền thông kết hợp tư vấn pháp luật. Cấp phát 28.444 tờ gấp các loại cho 3.565 lượt người tham dự, giải đáp thắc mắc về pháp luật cho 459 lượt người dân. Qua đó, nhiều người dân trên địa bàn tỉnh đã biết về trợ giúp pháp lý cũng như chính sách nhân đạo mà Đảng và Nhà nước đã dành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội.

Trong các hình thức trợ giúp pháp lý, Trung tâm đặc biệt quan tâm chú trọng đến hình thức tham gia tố tụng. Theo đó, trong năm 2018 Trung tâm đã tiếp nhận, thụ lý 212 vụ việc tham gia tố tụng để bào chữa, bảo vệ cho người được thụ hưởng chính sách trợ giúp pháp lý. Kết quả vụ việc tham gia tố tụng hoàn thành là 190 vụ việc. 100% Trợ giúp viên của Trung tâm tham gia tố tụng đạt chỉ tiêu tốt theo Công văn số 104/BTP-TGPL ngày 10 tháng 01 năm 2018 của Bộ Tư pháp về chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý năm 2018. Vụ việc trợ giúp pháp lý được cập nhật đầy đủ, không có khiếu nại và được đánh giá, quản lý chất lượng theo đúng quy định.

Trung tâm là thành viên của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại địa phương. Ngoài thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, Trung tâm còn tham mưu Sở Tư pháp – Cơ quan thường trực của Hội đồng trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định kiện toàn Hội đồng. Tham mưu tổ chức Hội nghị triển khai Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Bộ Tư pháp – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tài chính – Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng cho các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh; tham mưu ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng; xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch liên ngành; kế hoạch kiểm tra công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại cấp huyện... từ đó công tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại địa phương dần đi vào ổn định, nền nếp hơn góp phần thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Ngoài ra, Trung tâm còn chủ trì tham mưu, phối hợp tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Tây Ninh (17/4/1998 – 17/4/2018). Tại Lễ Kỷ niệm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tặng cho Trung tâm Bức trướng với nội dung: "Đoàn kết – Sáng tạo – Dân chủ – Công bằng – Thượng tôn pháp luật" để ghi nhận thành quả mà Trung tâm đạt được trong thời gian qua. Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen cho lãnh đạo Trung tâm và những người thực hiện trợ giúp pháp lý có thành tích xuất sắc. Bên cạnh đó, Giám đốc Sở Tư pháp tặng Giấy khen cho các cá nhân có nhiều đóng góp cho công tác trợ giúp pháp lý tại địa phương.

IMG_3185.jpg

(Đ/c Vương Văn Trợ - PGĐ Sở Tư pháp Tây Ninh trao cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018 cho Trung tâm)

 

Với kết quả đạt được năm 2018, Trung tâm đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tặng cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018. Và trên tinh thần "Đoàn kết – Sáng tạo – Dân chủ – Công bằng – Thượng tôn pháp luật",  trong năm 2019 tin chắc rằng Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh sẽ đạt được nhiều thành tích mới, trở thành địa chỉ đáng tin cậy của người nghèo, đối tượng chính sách và các đối tượng yếu thế trong xã hội./.

          Lê Điền

5/2/2019 8:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTrung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tây Ninh đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua năm 2018/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/2/2019 8:00 AMYesĐã ban hành
Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2015Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2015

​Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dưới 369_2016_1.pdf 369_2016.rar

8/21/2018 5:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLPhóng sựVăn phòngQuyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2015/HoatDongAnh/2018-08/rasoatvanban_Key_21082018161440.jpg
8/21/2018 5:00 PMYesĐã ban hành
Quy định mẫu trang phục, việc quản lý, sử dụng trang phục của Trợ giúp viên pháp lýQuy định mẫu trang phục, việc quản lý, sử dụng trang phục của Trợ giúp viên pháp lý
Ngày 07 tháng 11 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 21/2014/TT-BTP quy định mẫu trang phục, việc quản lý, sử dụng  trang phục của Trợ giúp viên pháp lý thuộc các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước

Đối tượng áp dụng của Thông tư này là Sở Tư pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Giám đốc Sở Tư pháp, Giám đốc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trợ giúp viên pháp lý và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Đối tượng được cấp phát trang phục là Trợ giúp viên pháp lý đang công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Việc quản lý, cấp phát trang phục của Trợ giúp viên pháp lý được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 58/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 08 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ quản lý, cấp phát trang phục của Trợ giúp viên pháp lý.

Trang phục quy định tại Thông tư này bao gồm: Quần áo vest, áo sơ mi dài tay, quần áo xuân hè (áo xuân hè ngắn tay, quần xuân hè), thắt lưng, giầy da, dép quai hậu, bít tất, cà vạt, cặp đựng tài liệu, biển hiệu. Chất liệu trang phục bảo đảm chất lượng. Thông tư cũng đã quy định cụ thể về màu sắc, chất liệu vải, kiểu dáng đối với trang phục nam và trang phục nữ.

Trợ giúp viên pháp lý phải mặc trang phục được cấp theo mẫu quy định tại Thông tư này khi thực hiện tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và các hoạt động trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Việc sử dụng trang phục của Trợ giúp viên pháp lý phải đúng mục đích, đúng đối tượng theo quy định. Nghiêm cấm sử dụng trang phục trái pháp luật.

Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 25 tháng 12 năm 2014.

                                                Ngọc Linh

11/25/2014 3:30 PMĐã ban hànhTin tức sự kiện(None)Quy định mẫu trang phục, việc quản lý, sử dụng trang phục của Trợ giúp viên pháp lý/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Ngày 07 tháng 11 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 21/2014/TT-BTP quy định mẫu trang phục, việc quản lý, sử dụng  trang phục của Trợ giúp viên pháp lý thuộc các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
11/25/2014 3:30 PMYesĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây ninh ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2016 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2016Ủy ban nhân dân tỉnh Tây ninh ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2016 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2016
Nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời đôn đốc, tổ chức và hướng dẫn việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiến nghị xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, ngày 08/3/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2016. Kế hoạch đã đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng để các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thành phố phải nghiêm túc thực hiện trong năm 2016 như:

Triển khai công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật: các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch để tổ chức triển khai thực hiện trong đó lựa chọn nội dung trọng tâm, trọng điểm phù hợp với chức năng nhiệm vụ, tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Ngoài ra, UBND tỉnh còn giao cho Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức tập huấn kỹ năng theo dõi thi hành pháp luật cho cán bộ làm công tác theo dõi thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh.

Theo dõi thi hành pháp luật với các hoạt động:

+ Thực hiện theo dõi đối với lĩnh vực trọng tâm theo kế hoạch của Bộ Tư pháp: Theo dõi tình hình thi hành pháp luật về nhà ở xã hội, nhà ở cho người có công, vùng thường xuyên bị thiên tai. Ngoài ra, UBND tỉnh còn tiến hành theo dõi tình hình thi hành pháp luật về chính sách Bảo trợ xã hội và việc thực hiện các quy định, thủ tục hành chính có liên quan về chính sách Bảo trợ xã hội tại Sở Lao động Thương binh và Xã hội và UBND các huyện, thành phố, các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Đây là những lĩnh vực nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân nên được UBND tỉnh đặc biệt quan tâm.

+ Kiểm tra tình hình thi hành pháp luật: Sở Tư pháp chủ trì tham mưu UBND tỉnh thành lập Đoàn kiểm tra và tiến hành kiểm tra tại các đơn vị theo kế hoạch.

Tại Kế hoạch, UBND tỉnh cũng đề nghị thủ trưởng các Sở, ngành tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp và các cơ quan đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung có liên quan. Khi có yêu cầu cử cán bộ tham gia đoàn kiểm tra liên ngành theo nội dung kế hoạch đã đề ra; Tổ chức thực hiện tốt công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ, ngành cấp trên; Báo cáo kết quả công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực của ngành mình theo quy định.

IMG_20150811_081148.jpg

Phòng QLXLVPHC&TDTHPL

4/8/2016 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhương LoanỦy ban nhân dân tỉnh Tây ninh ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2016 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2016/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm đánh giá thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, kịp thời đôn đốc, tổ chức và hướng dẫn việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật; kiến nghị xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và các biện pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, ngày 08/3/2016, UBND tỉnh ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2016. Kế hoạch đã đặt ra nhiều nhiệm vụ quan trọng để các sở, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thành phố phải nghiêm túc thực hiện trong năm 2016 như:
4/8/2016 8:00 AMYesĐã ban hành
Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2021Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2021

Ngày 08/01/2021, tại Phòng họp trực tuyến của Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2021. Tham gia Hội nghị, tại điểm cầu cấp tỉnh có Ban Giám đốc Sở Tư pháp và Lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở; tại điểm cầu cấp huyện có: Đại diện lãnh đạo UBND cấp huyện (phụ trách lĩnh vực Tư pháp); đại diện lãnh đạo Văn phòng HĐND và UBND cấp huyện; cán bộ, công chức Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố; Đại diện lãnh đạo UBND cấp xã (phụ trách lĩnh vực Tư pháp); Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

 8.1.2020.1.jpg

Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị trực tuyến

Nhằm giá kịp thời, khách quan, toàn diện, chính xác kết quả thực hiện nhiệm vụ trong các lĩnh vực công tác tư pháp năm 2020, xác định đúng, đầy đủ, khả thi phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu công tác năm 2021; các đại biểu đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả đạt được, cũng như hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm trong việc triển khai nhiệm vụ công tác tư pháp năm 2021. Hội nghị thống nhất với các báo cáo, ghi nhận báo cáo tham luận về công tác hộ tịch, quốc tịch, nuôi con nuôi trên địa bàn tỉnh năm 2020 và một số nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong thời gian tới của Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp; báo cáo tham luận kết quả triển khai một số giải pháp về nâng cao chất lượng công tác phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật và công tác hộ tịch trên địa bàn huyện Dương Minh Châu của Phòng Tư pháp huyện Dương Minh Châu. Hội nghị cũng đã thảo luận, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong các mặt công tác, địa bàn còn tồn tại, hạn chế trong năm 2020; tạo tiền đề thực hiện thành công các nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong năm 2021.  

Ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu: Năm 2020 là năm diễn ra nhiều sự kiện, là năm kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn, năm diễn ra Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và Đại hội thi đua yêu nước ngành Tư pháp lần thứ V, Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ V, Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X, đặc biệt là năm diễn ra Lễ kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống ngành tư pháp (28/8/1945-28/8/2020). Đồng thời, năm 2020 cũng là năm mà thế giới và nước ta phải chịu tác động, ảnh hưởng nặng nề ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội từ dịch bệnh Covid-19. Trong đó, ngành từ pháp cũng không tránh khỏi.

Tuy nhiên, với sự quyết tâm cao, sự nỗ lực của toàn thể công chức, viên chức, người lao động của ngành từ tỉnh cho đến cấp cơ sở, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND, UB MTTQ VN tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ và tạo điều kiện cho hoạt động công tác tư pháp của các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể cấp huyện, cấp xã từ đó đã giúp cho ngành Tư pháp tỉnh nhà trong năm 2020 hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong Chương trình công tác tư pháp và các nhiệm vụ được cấp ủy, chính quyền và Bộ Tư pháp giao.

Qua đó, Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh được Bộ Tư pháp xét, đánh giá, xếp hạng xuất sắc, đứng vị trí thứ 3 trong số 09 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố khu vực thi đua miền Đông Nam bộ (đứng thứ 14 trên phạm vi cả nước) và vinh dự được Bộ trưởng Bộ Tư pháp tặng Cờ dẫn đầu phong trào Thi đua Khu vực thi đua Khối cơ quan tư pháp các tỉnh miền Đông Nam bộ. Bên cạnh đó, Sở Tư pháp còn được UBND tỉnh tặng Cờ thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giai đoạn 2015-2020; bằng khen đạt giải nhất Hội thi Cải cách hành chính năm 2020 của tỉnh Tây Ninh; Bằng khen trong thực hiện việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008, giai đoạn 2015-2020; Bằng khen trong 10 năm thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa X). Nhiều tập thể, cá nhân thuộc Sở cũng được Bộ Tư pháp; UBND tỉnh bình xét, khen thưởng.

 8.1.2020.2.jpg

Ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên - Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

Trên cơ sở những kết quả đạt được, đồng thời chủ động khắc phục những khó khăn trong năm 2020, ông Nguyễn Hoàng Nam - Giám đốc Sở đã chỉ đạo ngành Tư pháp Tây Ninh tập trung thực hiện một số giải pháp nâng cao công tác tư pháp năm 2021 theo chỉ đạo của Bộ Tư pháp. Cũng tại Hội nghị, ông Nguyễn Hoàng Nam đã thay mặt Lãnh đạo Sở phát động phong trào thi đua năm 2021 tới toàn thể công chức, viên chức, người lao động trong ngành Tư pháp tỉnh Tây Ninh với chủ đề "Ngành Tư pháp đoàn kết, hành động, sáng tạo, thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao", đồng thời kêu gọi khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trên tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, kỷ luật và trách nhiệm.

Năm 2021, là năm có ý nghĩa hết sức quan trọng, là năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, là năm diễn ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, là năm bầu cử đại biểu quốc hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2016 và năm diễn ra nhiều ngày Lễ kỷ niệm, nhiều sự kiện trọng đại. Ông Nguyễn Hoàng Nam đề nghị cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể từ tỉnh đến xã tiếp tục quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ tạo điều kiện cho công tác tư pháp tại địa phương. Đồng thời đề nghị đội ngũ công chức tư pháp tại địa phương phải thường xuyên tranh thủ sựa lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền và tích cực, chủ động hơn nữa trong việc phối hợp với các ngành, các cấp trong triển khai thực hiện công tác tư pháp. Làm tốt vai trò cho tham mưu cho cấp  ủy, chính quyền ở lĩnh vực, nhiệm vụ được giao

(Đắc Hiển)

1/8/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnHội nghị trực tuyến triển khai công tác tư pháp năm 2021/HoatDongAnh/2021-01/8_Key_08012021160009.1_Key_08012021160009.2020_Key_08012021160009.1_Key_08012021160009.jpg
1/8/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Hội nghị cán bộ, công chức năm 2021Hội nghị cán bộ, công chức năm 2021

  Nhằm tổng kết, đánh giá quá trình hoạt động cơ quan trong năm 2020 và xác định phương hướng, nhiệm vụ năm 2021; vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 31/12/2020, Sở Tư pháp Tây Ninh đã tiến hành trọng thể Hội nghị cán bộ, công chức năm 2021. Tham dự Hội nghị có: đồng chí Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên - Bí thư Đảng ủy - Giám đốc Sở Tư pháp; đồng chí Đặng Thị Bích Hiền - Chánh Văn phòng Sở -Chủ tịch Công đoàn cơ sở; Ban Giám đốc Sở và toàn thể công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở.

HN.08.1.2020.1.jpg

Toàn cảnh Hội nghị

Tại Hội nghị, thay mặt Ban Giám đốc Sở, đồng chí Lý Hoàng Vũ - Phó Giám đốc Sở trình bày tóm tắt báo cáo đánh giá kết quả hoạt động cơ quan năm 2020 và phương hướng nhiệm vụ năm 2021 của cơ quan. Báo cáo đã đánh giá đầy đủ, toàn diện những thành tích và những tồn tại về các mặt, các hoạt động trong năm vừa qua và đề ra những phương hướng, nhiệm vụ cụ thể của Sở trong năm mới.

 HN.08.1.2020.2.jpg

Đoàn Chủ tịch Hội nghị cán bộ, công chức năm 2021

Để phát huy, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Đoàn Chủ tịch đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp dự thảo Quy chế thi đua khen thưởng của Sở. Tại Hội nghị, thay mặt Ban Thanh tra nhân dân trình bày Báo cáo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2018-2020, đồng thời tiến hành bầu Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2020-2022.

 HN.08.1.2020.3.jpg

Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2020-2022

Đồng chí Đặng Thị Bích Hiền, Chánh Văn phòng Sở, Chủ tịch Công đoàn báo cáo tổng kết phong trào thi đua năm 2020 và dự kiến nội dung phát động phong trào thi đua năm 2021; phát động ký kết thi đua trong toàn thể công chức viên chức, người lao động đang công tác tại Sở và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở.

HN.08.1.2020.4.jpg 

Đồng chí Nguyễn Hoàng Nam - Bí thư Đảng ủy - Giám đốc Sở Tư pháp phát biểu chỉ đạo

Sau khi nghe các nội dung tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Hoàng Nam - Bí thư Đảng ủy - Giám đốc Sở đã phát biểu chỉ đạo và ghi nhận những thành công, nỗ lực của tập thể Sở, đồng thời nhấn mạnh Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh cần tiếp tục cố gắng khắc phục khó khăn để phấn đấu hoàn thành mục tiêu năm mới.

Với tinh thần dân chủ, công khai, sau một buổi làm việc nghiêm túc, Hội nghị đã thống nhất cao về các kế hoạch, mục tiêu đặt ra cần thực hiện của Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh trong năm 2021.

(Đắc Hiển)

1/8/2021 5:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnHội nghị cán bộ, công chức năm 2021/HoatDongAnh/2021-01/HN_Key_08012021160552.08_Key_08012021160552.1_Key_08012021160552.2020_Key_08012021160552.1_Key_08012021160552.jpg
1/8/2021 5:00 PMYesĐã ban hành
Kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ đầu trên địa bàn tỉnh Tây NinhKết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ đầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác ban hành văn bản trong hoạt động quản lý, điều hành của HĐND, UBND các cấp, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đã được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc, tuân thủ các quy định của pháp luật và được triển khai đồng bộ, thường xuyên từ cấp tỉnh đến cấp xã, qua đó từng bước đưa công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh ngày càng đi vào nề nếp, hoạt động có chất lượng và đạt hiệu quả cao.

Thực hiện Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày 15/6/2013 quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP, ngày 28/9/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 1871/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 của Chính phủ về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và Thông tư số 09/2013/TT-BTP ngày 15/6/2013 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành Nghị định số 16/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Quyết định số 1875/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ đầu của HĐND, UBND các cấp tỉnh Tây Ninh (giai đoạn 1999-2013), Sở Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan tiến hành rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh với kết quả cụ thể như sau:

Cấp tỉnh: Tiến hành rà soát với tổng số 973 văn bản gồm: 917 văn bản giai đoạn 1999-2013 (gồm 194 Nghị quyết và 723 Quyết định) và 56 văn bản còn hiệu lực của giai đoạn trước.

- Hết hiệu lực toàn bộ: 543 văn bản (93 Nghị quyết, 450 Quyết định)

- Hết hiệu lực một phần: 37 văn bản (07 Nghị quyết, 30 Quyết định)

- Còn hiệu lực toàn bộ: 393 văn bản (94 Nghị quyết, 299 Quyết định)

- Còn hiệu lực một phần: 37 văn bản (07 Nghị quyết, 30 Quyết định)

- Cần sửa đổi, bổ sung: 35 văn bản (01 Nghị quyết, 34 Quyết định).

Đã tham mưu Hội đồng nhân dân tỉnh bãi bỏ 02 Nghị quyết do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành tính đến ngày 31/12/2013 hết hiệu lực pháp luật do thời gian thực hiện đã hết và căn cứ pháp lý để ban hành Nghị quyết đã hết hiệu lực. Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định bãi bỏ 51 Quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tính đến ngày 31/12/2013 hết hiệu lực do đối tượng điều chỉnh không còn; không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và căn cứ pháp lý ban hành Quyết định đã được thay thế bằng văn bản khác.

Cấp huyện: Tiến hành rà soát với  tổng số 1595 văn bản. Trong đó: 704 Nghị quyết và 891 Quyết định.

- Hết hiệu lực toàn bộ: 1300 văn bản (627 Nghị quyết, 673 Quyết định)

- Còn hiệu lực: 295 văn bản (77 Nghị quyết, 218 Quyết định).

Cấp xã: Tiến hành rà soát với tổng số 3853 văn bản. Trong đó: 3283 Nghị quyết và 570 Quyết định.

- Hết hiệu lực toàn bộ: 3463 văn bản (2980 Nghị quyết, 483 Quyết định)

- Còn hiệu lực: 390 văn bản (303 Nghị quyết, 87 Quyết định).

Tổng cộng toàn tỉnh đã rà soát tính đến ngày 30/4/2014: 6421 văn bản (4181 Nghị quyết, 2240 Quyết định). Trong đó:

- Hết hiệu lực toàn bộ: 5306 văn bản (3700 Nghị quyết, 1606 Quyết định)

- Hết hiệu lực một phần: 37 văn bản (07 Nghị quyết, 30 Quyết định)

- Còn hiệu lực toàn bộ: 1078 văn bản (474 Nghị quyết, 604 Quyết định)

- Còn hiệu lực một phần: 37 văn bản (07 Nghị quyết, 30 Quyết định)

- Cần sửa đổi, bổ sung: 35 văn bản (01 Nghị quyết, 34 Quyết định).

Nhìn chung công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của địa phương đảm bảo chất lượng theo quy định của Nghị định số 16/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 09/2013/TT-BTP của Bộ Tư pháp. Qua rà soát, hệ thống hóa đã kịp thời phát hiện một số lượng khá lớn văn bản hết hiệu lực, không còn phù hợp, chồng chéo cần xử lý góp phần bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật của địa phương với hệ thống pháp luật của Trung ương./.

 

                                                                        Phòng XDVB

11/7/2014 2:50 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnPhòng XD&KTVBQPPLKết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ đầu trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác ban hành văn bản trong hoạt động quản lý, điều hành của HĐND, UBND các cấp, công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật đã được thực hiện nghiêm túc, đúng nguyên tắc, tuân thủ các quy định của pháp luật và được triển khai đồng bộ, thường xuyên từ cấp tỉnh đến cấp xã, qua đó từng bước đưa công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát và hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh ngày càng đi vào nề nếp, hoạt động có chất lượng và đạt hiệu quả cao.
11/7/2014 2:50 PMYesĐã ban hành
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và của hải quan trong lĩnh vực hải quanThẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và của hải quan trong lĩnh vực hải quan

Theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt như sau:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân và phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính có trị giá không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, i khoản 5 Điều 5 Nghị định này.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa theo quy định tại Nghị định này;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính;

d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại các điểm a, b, c, d, đ; e, i khoản 5 Điều 5 Nghị định này.

Theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 128/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thì Hải quan có thẩm quyền xử phạt như sau:

1. Công chức Hải quan đang thi hành công vụ có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 500.000 đồng đối với cá nhân; phạt tiền đến 1.000.000 đồng đối với tổ chức.

2. Đội trưởng thuộc Chi cục Hải quan, Đội trưởng thuộc Chi cục Kiểm tra sau thông quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân; phạt tiền đến 10.000.000 đồng đối với tổ chức.

3. Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Đội trưởng Đội kiểm soát thuộc Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Đội trưởng Đội kiểm soát chống buôn lậu, Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển và Đội trưởng Đội kiểm soát bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thuộc Cục điều tra chống buôn lậu Tổng cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 25.000.000 đồng đối với cá nhân; phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với tổ chức;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định này.

4. Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng đối với cá nhân; phạt tiền đến 100.000.000 đồng đối với tổ chức;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định này.

5. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có quyền:

a) Phạt cảnh cáo;

b) Phạt tiền đến mức tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

c) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính;

d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại Nghị định này.

6. Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan và Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế với mức phạt tối đa theo quy định tại các điểm b, c, d khoản 2 Điều 138 Luật Quản lý thuế năm 2019./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL 

11/2/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLThẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp và của hải quan trong lĩnh vực hải quan/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc02_Key_02112020144553.11_Key_02112020144553.2020_Key_02112020144553.2_Key_02112020144553.png
11/2/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Kết quả 08 năm triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnhKết quả 08 năm triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh

 

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội ký ban hành vào ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007. Từ khi triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý cho đến nay, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh đã có sự chuyển biến tích cực, số người dân biết về trợ giúp pháp lý và được trợ giúp pháp lý hàng năm đều tăng, số vụ việc trợ giúp pháp lý năm sau luôn nhiều hơn năm trước. Và cả giai đoạn, Trung tâm đã thực hiện được 5.513 vụ, việc/5.631 người (nam: 2.852, nữ: 2.774).
Trung tâm Trợ giúp pháp lý là cơ quan tham mưu, giúp Ban Giám đốc Sở Tư pháp làm đầu mối trong việc tổ chức và triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh.
Ngay sau khi Luật Trợ giúp pháp lý được thông qua, Trung tâm đã chủ động tham mưu Sở Tư pháp trình UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện Luật Trợ giúp pháp lý. Trung tâm đã tổ chức truyền thông về pháp luật trợ giúp pháp lý đa dạng dưới mọi hình thức, mỗi hình thức đều mang lại hiệu quả thiết thực như: tổ chức được 20 hội nghị tập huấn, có 2.615 lượt người dự; Tổ chức 511 đợt trợ giúp pháp lý lưu động về cơ sở, có 24.029 người tham dự; Các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý đã sinh hoạt được 902 cuộc, có 31.984 lượt người đến tham gia sinh hoạt, thông qua sinh hoạt đã tư vấn pháp luật cho 2.162 người; Lắp đặt Bảng thông tin, Hộp tin về trợ giúp pháp lý tại trụ sở tiếp công dân của các cơ quan trong tỉnh và các cơ quan tiến hành tố tụng;Sao băng cassette để truyền thông pháp luật về trợ giúp pháp lý phát trên Trạm truyền thanh của xã.
Công tác truyền thông về trợ giúp pháp lý được triển khai sâu rộng đến nhân dân, số người dân được biết về quyền được trợ giúp pháp lý của họ và các thông tin liên quan đến tổ chức, điều kiện, trình tự, thủ tục trợ giúp pháp lý ngày càng nhiều. Đa số cán bộ ở các cơ quan tiếp công dân, cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng nắm được các quy định về trợ giúp pháp lý và quyền của người dân về trợ giúp pháp lý. Từ đó cũng đã nâng cao được ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc triển khai thực hiện chính sách này đến với nhân dân một cách kịp thời, hiệu quả, tích cực.
Công tác đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý tiếp tục được nâng cao chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý của các Cộng tác viên khi thực hiện trợ giúp pháp lý. Hàng năm, Trung tâm đều có phân công Trợ giúp viên pháp lý tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc theo định kỳ 02 lần/năm. Qua kết quả đánh giá chất lượng, tất cả vụ việc đều đạt chất lượng tốt.
Hàng năm, Trung tâm tham mưu Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ban hành kế hoạch hoạt động, tổ chức kiểm tra việc thực hiện tại một số cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh. Qua đó, bước đầu đã có sự chuyển biến, các cơ quan tiến hành tố tụng tăng cường giới thiệu đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý các vụ án hình sự, đối tượng là người. Trung tâm đã có sự phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng để thực hiện trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng, mỗi năm thực hiện trên 100 vụ việc.
Để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân tại cơ sở, Trung tâm đã tăng cường tham gia các hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Có thể nói hoạt động trợ giúp pháp lý đã đem đến cho người dân những thông tin pháp luật hữu ích, giải đáp những thắc mắc, giúp người dân hiểu hơn về các trình tự, thủ tục hành chính cần thiết khi giải quyết công việc, tránh việc đi lại nhiều lần dẫn đến tốn kém thời gian, tiền bạc và công sức của người dân.
Trong một số trường hợp cụ thể, bằng sự nhiệt tình và tâm huyết với nghề “trợ giúp pháp lý”, đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý, Luật sư – cộng tác viên của Trung tâm đã giúp cho một số vụ án được minh oan, sáng tỏ, tạo niềm tin cho người được thụ hưởng chính sách trợ giúp pháp lý, thể hiện sự công bằng của pháp luật Việt Nam, góp phần tạo niềm tin của nhân dân với chính quyền, làm cho người dân luôn “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
 Từ nguồn kinh phí hỗ trợ của Trung ương phân bổ cho các địa phương để thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý trong chương trình 135 giai đoạn II và Quyết định số 59/2012/QĐ-TTg, Trung tâm đã tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động cho các xã đặc biệt khó khăn, đã tham mưu Sở Tư pháp xây dựng kế hoạch thành lập các Câu lạc bộ TGPL tại các xã đặc biệt khó khăn; Trang bị 84 Bảng thông tin tại Văn phòng các ấp của các xã thuộc Chương trình 135.
Bộ Tư pháp, UBND tỉnh và Sở Tư pháp luôn quan tâm, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện để Trung tâm Trợ giúp pháp lý thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Kinh phí hoạt động và biên chế của Trung tâm luôn được chú trọng tăng cường và bổ sung hàng năm. Ngoài nguồn kinh phí chi hoạt động thường xuyên, Trung tâm còn được cấp kinh phí từ các nguồn khác như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (Chương trình 135 giai đoạn II và QĐ số 59/2012/QĐ-TTg); Dự án hợp tác quốc tế; Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam; Kinh phí đặc thù. Nguồn kinh phí được cấp đã đảm bảo cho việc tổ chức thực hiện các hoạt động chuyên môn trợ giúp pháp lý và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trợ giúp pháp lý ngày càng tăng trong điều kiện kinh tế - xã hội tình nhà ngày càng phát triển.
Với phương châm trợ giúp pháp lý “luôn luôn đi cùng dân” và luôn chủ động “hướng về cơ sở”, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đã thực sự trở thành địa chỉ đáng tin cậy cho người dân trên địa bàn tỉnh tìm đến để được giúp đỡ khi họ có vướng mắc về pháp luật, để chia sẻ khi họ cần được bảo vệ. Qua đó đã khẳng định chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người có công và một số đối tượng khác là một chính sách đúng đắn hợp lòng dân và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại./.
                                                                            Ngọc Linh

 

4/21/2015 10:35 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lý(None)Kết quả 08 năm triển khai thi hành Luật Trợ giúp pháp lý trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
4/21/2015 10:35 AMYesĐã ban hành
Thông báo đấu giá 532 chiếc xe mô tô các loại của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây NinhThông báo đấu giá 532 chiếc xe mô tô các loại của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh

Thông báo Bán đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước lô 532 chiếc xe mô tô các loại của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh.

Giá khởi điểm: 780.100.000 đồng. Tiền đặt trước: 110.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 02/8/2017 (thứ 4).

- Tổ chức đấu giá: 08 giờ 30 phút, ngày 04/8/2017 (thứ 6).

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Địa điểm đăng ký và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

* Xem tài sản trực tiếp vào ngày 27/7 (thứ 5) và 28/7 (thứ 6), tại Phòng Cảnh sát giao thông.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký tham dự đấu giá xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ: 258 đường Võ Thị Sáu, Khu phố 5, Phường 4, Thành phố Tây Ninh. Điện thoại: 0276.3813218 để biết thêm chi tiết.

7/26/2017 10:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáVăn phòngThông báo đấu giá 532 chiếc xe mô tô các loại của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/26/2017 10:00 AMNoĐã ban hành
Thông báo bán đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao suThông báo bán đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao su

TRUNG TÂM DỊCH VỤ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH TÂY NINH

THÔNG BÁO BÁN ĐẤU GIÁ

 

Bán đấu giá kết quả đầu tư và chuyển nhượng quyền trồng, chăm sóc, khai thác cây cao su, cây keo, cây tếch trên diện tích 200 ha đất tại xã EaBung, huyện EaSup, tỉnh Đăklăk.

- Giá khởi điểm: 16.270.000.000 đồng

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua hồ sơ và nộp tiền đặt trước từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 20/6/2017 (thứ 3).

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ 00 phút, ngày 22/6/2017 (thứ 5),

- Địa điểm đăng ký và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

* Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo, tại xã EaBung, huyện EaSup, tỉnh Đăklăk.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký tham dự đấu giá xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ: 258 đường Võ Thị Sáu, Khu phố 5, Phường 4, Thành phố Tây Ninh. Điện thoại: 066.3813218 để biết thêm chi tiết./.

5/22/2017 4:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo bán đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao su/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
5/22/2017 4:00 PMYesĐã ban hành
Cách ghi biên bản cưỡng chế thi hành  quyết định xử lý vi phạm hành chính(Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả)Cách ghi biên bản cưỡng chế thi hành  quyết định xử lý vi phạm hành chính(Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả)

Biên bản cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính, cụ thể là cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là biên bản thường xuyên được sử dụng nhất trong cưỡng chế hành chính. Để có thể hiểu và ghi biên bản cưỡng chế thi hành quyết định thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính đúng quy định pháp luật. Trên cơ sở quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (Nghị định 81/2013/NĐ-CP); Nghị định 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 81/2013/NĐ-CP hướng dẫn cách ghi biên bản cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính (cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả) như sau:  

a) Cưỡng chế phải lập biên bản

Theo Điều 35 Nghị định 166/2013/NĐ-CP về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì biên bản thi hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả gồm có nội dung như sau:

xlqphc6.7.2019.1.jpg

b) Việc thi hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả gây ra phải được lập biên bản và giao cho người bị cưỡng chế một bản. Trong biên bản ghi rõ: Thời gian, địa điểm, cơ quan chủ trì tiến hành cưỡng chế; cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế; đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến; kết quả thực hiện.

c) Cá nhân hoặc đại diện tổ chức bị cưỡng chế, đại diện cơ quan ra quyết định cưỡng chế, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến ký vào biên bản. Trường hợp có người vắng mặt hoặc có mặt mà từ chối ký biên bản thì việc đó phải ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.

Nghị định 97/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 81/2013/NĐ-CP có mẫu số 6 về biên bản cưỡng chế thi hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. So với Nghị định 81/2013/NĐ-CP thì đây là mẫu biên bản hoàn toàn mới, Nghị định 81/2013/NĐ-CP  chỉ có mẫu chung cho cưỡng chế các quyết định hành chính, còn Nghị định 97/2017/NĐ-CP  thì có mẫu cho từng biện pháp cưỡng chế.

Sau đây là Mẫu biên bản số 06 về cưỡng chế thi hành quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả:

Xem nội dung biên bản cụ thể chọn vào tập tin bên dưới

cách ghi biên bản cưỡng chế.docx


6/7/2019 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLCách ghi biên bản cưỡng chế thi hành  quyết định xử lý vi phạm hành chính(Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả)/HoatDongAnh/2019-06/xlqphc6_Key_07062019080338.7_Key_07062019080338.2019_Key_07062019080338.1_Key_07062019080338.jpg
6/7/2019 9:00 AMYesĐã ban hành
Kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Tây NinhKiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thực hiện Chương trình công tác Tư pháp năm 2018 và nhằm kịp thời đánh giá hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng trong việc chấp hành pháp luật; qua đó để phát huy mặt tích cực, có biện pháp khắc phục hạn chế, tồn tại, giúp hoạt động công chứng được nâng cao hiệu quả trong hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng; đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch của cá nhân, tổ chức góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, ngày 19/7/2018 Sở Tư pháp Tây Ninh ban hành kế hoạch kiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng tại một số tổ chức hành nghề Công chứng trên địa bàn tỉnh.

     Các tổ chức hành nghề công chứng được kiểm tra là: Phòng Công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh; Văn phòng công chứng Bùi Văn Dư; Văn phòng Công chứng Hồ Vĩnh Tuấn; Văn phòng Công chứng Bùi Quốc Toàn; Văn phòng Công chứng Trịnh Văn Chẹt; Văn phòng Công chứng Đông Nam - Tây Ninh; Văn phòng công chứng Hồ Văn Muôn và Văn phòng Công chứng Trần Duy Linh.

Nội dung kiểm tra tập trung vào việc thực các quy định của Luật Công chứng, cụ thể: Kiểm tra về trình tự, thủ tục của từng loại thủ tục hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định từ Điều 40 đến Điều 51 tại mục 1 chương V của Luật Công chứng 2014, cụ thể như: Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn thảo sẵn; công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng; phạm vi công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản; thời hạn công chứng; địa điểm công chứng; chữ viết trong văn bản công chứng; lời chứng của công chứng viên; người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người phiên dịch; ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng; việc ghi trang, tờ trong văn bản công chứng; sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản công chứng; công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch;

 Kiểm tra về thủ tục công chứng một số hợp đồng, giao dịch, công chứng bản dịch, nhận lưu giữ di chúc theo quy định từ Điều 54 đến Điều 61 tại mục 2 chương chương V của Luật công chứng; về cơ sở dữ liệu công chứng và lưu trữ hồ sơ công chứng theo quy định từ Điều 62 đến Điều 65 tại chương VI; về phí công chứng, thù lao công chứng và chi phí khác theo quy định từ Điều 66 đến Điều 68 chương 7 của Luật Công chứng năm 2014.

Ngoài ra, Đoàn Kiểm tra còn tiến hành kiểm tra một số vấn đề khác có liên quan đến hoạt động công chứng như:  Việc thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch; Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng; thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban hành quy tắc đạo đức hành nghề công chứng và việc thực hiện quy trình thủ tục công chứng trong việc công chứng.

Qua kiểm tra cho thấy, các tổ chức hành nghề công chứng cơ bản đã thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Công chứng, các văn bản hướng dẫn thi hành, hầu hết các hợp đồng, giao dịch được công chứng viên thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục công chứng và xem xét đầy đủ căn cứ pháp lý trước khi ký, đáp ứng  được nhu cầu công chứng của người dân trên địa bàn.

Về tổ chức của các tổ chức hành nghề công chứng: Số lượng công chứng viên, viên chức, nhân viên nghiệp vụ và các lao động của các tổ chức hành nghề công chứng đảm bảo theo Đề án thành lập, đáp ứng duy trì và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng; mỗi tổ chức hành nghề công chứng đều đảm bảo có 02 công chứng viên. Các tổ chức hành nghề ông chứng niêm yết đầy đủ các quy trình, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng và lịch làm việc của tổ chức hành nghề công chứng; thực hiện chế độ làm việc theo giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước, chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế, tài chính, lưu trữ hồ sơ công chứng ... Các tổ chức hành nghề công chứng được kiểm tra đều hoạt động theo loại hình công ty hợp danh, đảm bảo theo quy định, thực hiện tốt nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho Công chứng viên theo quy định của Luật Công chứng 2014.

Về hoạt động: Từ ngày 02/01/2018 đến hết 30/6/2018, các tổ chức hành nghề công chứng đã tiến hành công chứng 24.839 hợp đồng, giao dịch. Tổng số tiền thu phí công chứng: 6.301.914.219 đồng, thù lao công chứng: 1.174.011.506 đồng, nộp vào ngân sách nhà nước: 1.342.034.556 đồng.

          Ngoài ra, các tổ chức hành nghề công chứng đã lập sổ theo dõi hợp đồng, giao dịch; hồ sơ công chứng các hợp đồng, giao dịch, đã được phân loại theo từng loại hợp đồng, giao dịch; thành phần hồ sơ đảm bảo đầy đủ. Việc thu phí công chứng được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 257/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Bộ Tài chính và Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND 22/7/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định mức trần thù lao công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

          Bên cạnh những mặt đã đạt được, thông qua kiểm tra cũng đã phát hiện một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động công chứng: hồ sơ lưu dư thành phần hồ sơ theo quy định, cụ thể dư hộ khẩu, giấy Chứng nhận kết hôn, giấy CMND; còn thiếu sổ sách kế toán theo quy định của Luật kế toán; thiếu sổ tiền mặt, sổ tài khoản tiền gửi, doanh thu, sổ theo dõi tài sản; không xuất hóa đơn trong ngày đối với những hồ sơ có mức thu phí bản sao dưới 200.000 đồng theo quy định Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính; lời chứng của công chứng viên chưa phù hợp với nội dung hợp đồng, giao dịch; chưa thực hiện tốt việc đối chiếu chữ ký mẫu của các tổ chức tín dụng, ngân hàng; trong các hợp đồng, giao dịch (trừ hợp đồng thế chấp) còn thiếu thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự. Đối với hồ sơ công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản đa số không có giấy chứng tử của cha, mẹ của người để lại di sản;         

Kết thúc đợt kiểm tra, đại diện Lãnh đạo Sở Tư pháp đã đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng tiếp tục phát huy những mặt đã làm được, khắc phục những tồn tại mà Đoàn kiểm tra đã chỉ ra, nghiêm túc thực hiện những quy định của pháp luật về hoạt động công chứng. Đồng thời, lãnh đạo Sở Tư pháp cũng yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng, các công chứng viên phải nâng cao trách nhiệm hành nghề để đảm bảo cao hơn tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng.

Ngoài ra, Lãnh đạo Sở Tư pháp cũng giao Thanh tra Sở căn cứ vào kết luận kiểm tra đối chiếu với những sai sót của các tổ chức hành nghề công chứng với quy định tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã để xem xét hành vi vi phạm và tiến hành xử lý theo quy định./.

 

 PHÒNG BỔ TRỢ TƯ PHÁP

10/24/2018 10:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinBTTPKiểm tra về tổ chức và hoạt động công chứng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2018-10/bttp10_Key_24102018095947.1_Key_24102018095947.png
10/24/2018 10:00 AMYesĐã ban hành
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quanQuy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Ngày 19/10/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 128/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan. Nghị định quy định về hành vi vi phạm, hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt; thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 12 năm 2020. Nghị định này thay thế Nghị định số 127/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan và Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 127/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

1. Về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được quy định tại Điều 4 như sau:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế:

+ Đối với vi phạm hành chính là hành vi trốn thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu thì thời hiệu xử phạt là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm;

+ Quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về quản lý thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu không đúng hoặc số tiền thuế trốn, số tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm hành chính về quản lý thuế.

- Thời hiệu xử phạt đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực hải quan thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

- Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến theo quy định tại Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì thời hiệu được áp dụng theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều này. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Trong thời hạn được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

2. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được quy định tại Điều 6 là:

Các trường hợp không xử phạt theo quy định tại Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Hàng hóa, phương tiện vận tải được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do sự kiện bất ngờ, sự kiện bất khả kháng thì phải thông báo với cơ quan hải quan hoặc cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật; hàng hóa, phương tiện vận tải đó phải được đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi các yếu tố nêu trên được khắc phục.

Các trường hợp được khai bổ sung hồ sơ hải quan trong thời hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Luật Hải quan năm 2014 không bị xử phạt vi phạm hành chính.

Các trường hợp người khai hải quan thực hiện theo văn bản hướng dẫn, quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nội dung xác định nghĩa vụ thuế theo quy định tại khoản 11 Điều 16 Luật Quản lý thuế.

Trường hợp hàng hoá gửi vào Việt Nam không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại Điều 39 Luật Thương mại năm 2005 (trừ hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, hàng giả, phế liệu không thuộc Danh mục được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất) nhưng đã được người gửi hàng, người vận tải, người nhận hàng hoặc người đại diện hợp pháp của người gửi hàng, người vận tải, người nhận hàng thông báo bằng văn bản (nêu rõ lý do) kèm theo các chứng từ liên quan tới Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi lưu giữ hàng hóa khi chưa đăng ký tờ khai hải quan.

3. Một số hành vi vi phạm và mức xử phạt trong lĩnh vực hải quan

Thứ nhất: Vi phạm quy định về khai hải quan:

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, xuất xứ hàng hóa là hàng viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ, mã số hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế nhưng không làm ảnh hưởng đến số thuế phải nộp; trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều này; không khai trên tờ khai hải quan mối quan hệ đặc biệt giữa người mua và người bán theo quy định của pháp luật hải quan mà không ảnh hưởng đến trị giá hải quan.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa và thuộc một trong các trường hợp sau:Hàng hóa quá cảnh, chuyển khẩu, hàng hóa trung chuyển; hàng hóa sử dụng, tiêu hủy trong khu phi thuế quan.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, chất lượng, trị giá hải quan, xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, đối tượng không chịu thuế theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 và điểm d khoản 4 Điều này.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: khai sai số lượng vận đơn chủ, vận đơn thứ cấp trên bản khai hàng hóa của hồ sơ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khai sai số lượng hành khách trên danh sách hành khách của hồ sơ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khai sai số lượng kiện hành lý trên bản khai hành lý của hồ sơ phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; khai sai so với thực tế về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, chủng loại, xuất xứ hàng hóa đưa vào kho ngoại quan, kho bảo thuế; hàng hóa từ kho ngoại quan, kho bảo thuế đưa ra nước ngoài.

5. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi đã làm thủ tục hải quan nhưng không xuất khẩu, xuất khẩu thiếu so với khai hải quan về lượng (tang vật có trị giá trên 10.000.000 đồng), tên hàng, trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; trừ hàng hóa xuất khẩu là sản phẩm gia công, sản phẩm sản xuất xuất khẩu, sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài của doanh nghiệp chế xuất, hàng kinh doanh tạm nhập, tái xuất.

Quy định này không áp dụng cho các trường hợp tờ khai hải quan không có giá trị làm thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Luật Hải quan năm 2014.

6. Vi phạm quy định về khai hải quan tại Điều này mà người khai hải quan tự phát hiện và khai bổ sung quá thời hạn quy định thì bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này; phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này; phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này; phạt tiền từ 2.500.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 Điều này; phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này;

7. Vi phạm quy định tại điểm b khoản 1, khoản 3, khoản 5 Điều này dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn, không thu hoặc trốn thuế hoặc vi phạm quy định pháp luật về quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì xử phạt theo các Điều 9, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 Nghị định này.

8. Quy định tại Điều này không áp dụng đối với trường hợp vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 11 Nghị định này.

Thứ hai: Vi phạm quy định về quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cảng, kho, bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan (trừ kho ngoại quan, kho bảo thuế)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Không thông báo đúng thời hạn tình hình hàng hóa tồn đọng tại cảng, kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan; không sắp xếp hàng hóa trong khu vực cảng, kho, bãi theo yêu cầu giám sát, quản lý của cơ quan hải quan.

2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Không thực hiện đầy đủ chế độ quản lý, thống kê, lưu giữ chứng từ, sổ sách, số liệu hàng hóa đưa vào lưu giữ, đưa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi theo quy định của pháp luật và xuất trình, cung cấp cho cơ quan hải quan khi có yêu cầu;không thực hiện việc cung cấp thông tin và phối hợp với cơ quan hải quan trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát hàng hóa ra, vào, lưu giữ tại khu vực cảng, kho, bãi, địa điểm làm thủ tục hải quan, tập kết, kiểm tra, giám sát hải quan.

3. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi cho phép đưa hàng hóa ra khỏi khu vực cảng, kho, bãi khi chưa nhận được thông tin hàng hóa đủ điều kiện qua khu vực giám sát hoặc đã nhận được thông tin tạm dừng đưa hàng hóa qua khu vực giám sát hải quan./.

 

THU HỒNG

11/2/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLQuy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc02_Key_02112020144339.11_Key_02112020144339.2020_Key_02112020144339.1_Key_02112020144339.png
11/2/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Khẩu trang điện tử BluezoneKhẩu trang điện tử Bluezone

​Xem hướng dẫn cụ thể chọn vào tập tin bên dưới

Giới thiệu Bluezone v2.2 Bo TTTT.pdf

8/4/2020 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnKhẩu trang điện tử Bluezone/HoatDongAnh/2020-08/bluezone_Key_10082020091508.2020_Key_10082020091508.jpg
8/4/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Những kết quả nổi bật của phong trào thi đua Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam Bộ năm 2020Những kết quả nổi bật của phong trào thi đua Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam Bộ năm 2020

Ngày 14/12/2020, Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam bộ đã tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2020 tại tỉnh Tây Ninh. Hội nghị có sự tham dự của ông Mai Lương Khôi - Thứ trưởng Bộ Tư pháp; ông Dương Văn Thắng - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh; lãnh đạo Vụ thi đua - khen thưởng, Tổng cục Thi hành án dân sự, Cục Công tác phía Nam (Bộ Tư pháp) và đại diện Lãnh đạo và Công chức phụ trách thi đua của các Sở Tư pháp và Thi hành án dân sự của 09 tỉnh, thành phố khu vực thi đua miền Đông Nam bộ. Về phía Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh, có ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh - Trưởng Khu vực thi đua chủ trì Hội nghị.

 mdnbstp.1.jpg

Toàn cảnh Hội nghị Tổng kết công tác thi đua, khen thưởng năm 2020

Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam bộ

Theo báo cáo tại Hội nghị, năm 2020, công tác thi đua, khen thưởng được ngành tư pháp các tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Đông Nam bộ triển khai cơ bản đúng trọng tâm, thiết thực, phù hợp với các nội dung, kế hoạch của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Khu vực thi đua miền Đông Nam bộ và các địa phương. Phong trào thi đưa đã bám sát nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn của ngành trong chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện, từ đó đã đem lại hiệu quả thiết thực, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao.

 

mdnbstp.2.1.jpg

Ông Dương Văn Thắng - Tỉnh ủy viên,

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh phát biểu chào mừng Hội nghị

mdnbstp.2.2.jpg

Ông Nguyễn Hoàng Nam - Tỉnh ủy viên,

Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh,

Trưởng Khu vực thi đua phát biểu khai mạc Hội nghị


Cụ thể, các Sở Tư pháp các tỉnh đã thực hiện tốt Chương trình công tác tư pháp năm 2020 và các nội dung thi đua theo Quyết định số 1060/QĐ-BTP ngày 12/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành Kế hoạch phát động phong trào thi đua theo chuyên đề đối với các cơ quan tư pháp địa phương năm 2020. Đồng thời, với sự nỗ lực không ngừng của các cơ quan thi hành án dân sự, từ ngày 01/10/2019 đến ngày 30/9/2020, kết quả của Khu vực đạt được như sau: Chỉ tiêu thi hành xong về việc là 154.401 việc, đạt tỷ lệ thi hành xong là 79,22% (thiếu 0.72% so với chỉ tiêu được giao). Chỉ tiêu thi hành xong về tiền là 29.133 tỷ 046 triệu 026 nghìn đồng, đạt tỷ lệ thi hành xong là 42,71%, vượt 4,71% so với chỉ tiêu được giao.  Không chỉ có vậy, việc tổ chức triển khai phong trào thi đua của các cơ quan trong Khu vực thi đua còn tập trung vào những công tác trọng tâm, gắn thi đua với việc củng cố kiện toàn tổ chức, cải cách hành chính, cải tiến lề lối làm việc, phát huy sáng kiến, nâng cao năng lực và chất lượng, hiệu quả công tác và các phong trào khác do ngành và tỉnh phát động, nhất là phong trào thi đua "Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau", "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển",  "Cán bộ Tư pháp tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" giai đoạn 2016-2020, "Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong ngành Tư pháp thi đua thực hiện văn hóa công sở" giai đoạn 2019-2025, "Ngành Tư pháp chung sức góp phần xây dựng nông thôn mới" giai đoạn 2020-2025.... Thông qua các hoạt động phong trào thi đua, đã tạo được những chuyển biến quan trọng trong các mặt công tác của ngành; chú trọng công tác xây dựng các đề tài sáng kiến, cải tiến công tác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp. 

Tại Hội nghị, đại diện các đơn vị trong Khu vực thi đua cũng đã trình bày một số tham luận về các mô hình mới, cách làm hiệu quả; đồng thời thông qua một số nội dung kết quả kiểm tra, chấm điểm xếp hạng bình xét các phong thi đua, nêu những kết quả đạt được cũng như một số tồn tại trong công tác thi đua năm 2020. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng đã thảo luận sôi nổi, trọng tâm về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện công tác tư pháp và công tác thi đua, khen thưởng của Khu vực thi đua, trong đó tập trung vào 04 nội dung: Chưa có đầu mối chia sẻ thông tin về những giải pháp mới, cách làm hay của các thành viên trong khu vực thi đua; Bộ Tư pháp chưa có quy định chung, thống nhất cách sắp xếp cơ cấu tổ chức, bộ máy bên trong của Sở Tư pháp, thống nhất tên gọi, chức năng và số lượng các phòng; nội dung quy định cơ cấu tổ chức; cơ cấu tổ chức, tên gọi chức danh lãnh đạo trong trường hợp sáp nhập Thanh tra và Văn phòng Sở tại Nghị định số 107/2020/NĐ-CP ngày 14/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cần có giải pháp trong việc cách tính điểm của Sở Tư pháp vì kết quả tự chấm điểm thi đua của các đơn vị và kết quả đánh giá thi đua từ phía Bộ Tư pháp có sự chênh lệch lớn, ảnh hưởng đến tổng điểm đánh giá, xếp hạng; Ngoài ra, có một số khó khăn như: Việc xã hội hóa lĩnh vực công chứng vẫn còn nhiều khó khăn do Bộ không có quy định khung về việc quy định tiêu chí thành lập Văn phòng công chứng, Bộ ít tổ chức các kỳ kiểm tra cấp chứng chỉ hành nghề và nhiều cá nhân không vượt qua được kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề công chứng; Sở chưa chủ động được trong việc tra cứu án tích để cấp phiếu LLTP, …

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, ông Mai Lương Khôi - Thứ trưởng Bộ Tư pháp nhận định, năm 2020 là năm có nhiều khó khăn thách thức, nhất là dịch bệnh Covid-19 và thiên tai bão lụt đã ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội, trong đó công tác của Bộ, ngành Tư pháp cũng bị ảnh hưởng nhiều. Nhưng điều đáng mừng, theo Thứ trưởng, ngành Tư pháp có những nỗ lực, hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chính quyền địa phương giao phó. Trong đó phải kể đến tổng kết thi hành nhiều Nghị quyết của Đảng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao, tạo cơ sở, định hướng cho thể chế pháp luật và tư pháp trong thời gian tới, như: Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 32-CT/TW, Chỉ thị 33-CT/TW của Ban Bí thư…Thứ trưởng đã ghi nhận, đánh giá cao những kết quả thi đua của Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam bộ đạt được trong năm 2020. Theo Thứ trưởng, có được những kết quả tích cực như trên phải nói đến vai trò của công tác thi đua khen thưởng. Đây là động lực thúc đẩy, khích lệ đội ngũ công chức, viên chức của ngành Tư pháp. Nhận định năm 2021, Thứ trưởng Mai Lương Khôi nhấn mạnh, là năm bản lề của nhiệm kỳ mới của Đảng, Quốc hội, Chính phủ… Kéo theo đó nhiệm vụ ngành Tư pháp sẽ nặng nề như: xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật. Do vậy, trong nhiều nhiệm vụ, Thứ trưởng đề nghị ngành Tư pháp tiếp tục quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thi đua - khen thưởng. Thứ trưởng Mai Lương Khôi nhắc lại chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ 10: "Phong trào thi đua yêu nước cần phải hướng tới việc cổ vũ các bộ, ban, ngành, địa phương và nhân dân cả nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tận dụng tốt các cơ hội, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và xu hướng dịch chuyển đầu tư, thương mại, chuyển đổi số, sự phát triển của các mô hình kinh doanh mới, sự thay đổi phương thức sản xuất, tiêu dùng và giao tiếp trên toàn cầu… để đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ, ngày càng phát triển, phấn đấu thành công toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm (2021 – 2025)".

 

mdnbstp.3.1.jpg

Ông Mai Lương Khôi - Thứ trưởng

Bộ Tư pháp phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị

mdnbstp.3.2.jpg
Bà Nguyễn Thị Tố Nga, Vụ trưởng Vụ Thi đua,  Khen thưởng - Bộ Tư pháp đã thông báo dự kiến chấm điểm  thi đua, xếp hạng

Tham dự Hội nghị, bà Nguyễn Thị Tố Nga, Vụ trưởng Vụ Thi đua - Khen thưởng - Bộ Tư pháp đã thông báo dự kiến chấm điểm  thi đua, xếp hạng các Sở Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự các tỉnh miền Đông Nam bộ. Theo đó, Hội nghị đã tiến hành bình chọn, suy tôn "Cờ thi đua ngành Tư pháp"; "Cờ Thi đua của Chính phủ" cho các thành viên Khu vực thi đua. Kết quả như sau:

1. Cờ thi đua ngành Tư pháp

Đối với Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố, có Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai và Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh.

Đối với các Cục thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố, có Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương; Cục Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

Đối với các Chi Cục thi hành án dân sự có 12 đơn vị, gồm:

- Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Chi cục THADS thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Chi cục THADS thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

- Chi cục THADS huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.

- Chi cục THADS huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

- Chi cục THADS thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Chi cục THADS Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Chi cục THADS Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Chi cục THADS quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Chi cục THADS huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Cờ thi đua Chính phủ gồm 01 đơn vị là Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

Theo thông lệ hàng năm, tại Hội nghị tổng kết, Khu vực Thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam bộ tiến hành xét chọn trao cho 01 trường hợp công chức thuộc khối Sở Tư pháp và 01 trường hợp Khối Cơ quan Thi hành án dân sự, sau khi thảo luận hội nghị đi đến thống nhất danh sách trao tặng Nhà tình thương của Khu vực Thi đua năm 2020 cho 01 công chức: Nguyễn Thị Chí Lục, sinh ngày 1985 là Thi ký Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận (do khối các Sở Tư pháp không có hồ sơ đề nghị).

Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Tố Nga - Vụ trưởng Vụ Thi đua, khen thưởng, Bộ Tư pháp đã công bố Quyết định số 2257/QĐ-BTP ngày 09/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc cử Trưởng và Phó Trưởng Khu vực thi đua khối cơ quan Tư pháp địa phương năm 2021. Theo đó, Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh đã chuyển giao nhiệm vụ Trưởng Khu vực thi đua Khối Cơ quan tư pháp năm 2021 cho Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước - Trưởng Khu vực thi đua; Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Phó trưởng Khu vực. Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước - Trưởng Khu vực thi đua cũng đã tổ chức ký kết Giao ước thi đua năm 2021 giữa các thành viên trong khu vực theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp.

 mdnbstp.4.jpg

 

mdnbstp.5.jpgmdnbstp.6.jpg

Thành viên Khu vực thi đua ký kết thi đua năm 2021

 

(Đắc Hiển)

12/22/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnNhững kết quả nổi bật của phong trào thi đua Khu vực thi đua Khối cơ quan Tư pháp các tỉnh miền Đông Nam Bộ năm 2020/HoatDongAnh/2020-12/mdnbstp_Key_22122020150001.1_Key_22122020150001.jpg
12/22/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next