Tin tức - Tin tức sự kiện
 
​Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022. Luật này có nhiều điểm mới đáng chú ý. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung có 9 điểm mới như sau:1. Tăng mức phạt tiền tối đa của nhiều lĩnh vựcTại Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 đã tăng mức phạt của một ...
 
​Chiều ngày 29/7/2021, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp. Đến tham dự buổi lễ có Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp và các đồng chí đại diện các đoàn thể, lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở. Ông Phạm Văn Đặng - Giám ...
 
​Ngày 24/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Theo Nghị định này, các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm các chế độ sau:- Bảo hiểm y tế;- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;- Hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết;- Hỗ ...
 
Nhằm hỗ trợ công tác phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh, từ 07 giờ ngày 26/7/2021 (thứ Hai), Sở Thông tin và Truyền thông triển khai chính thức các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh như sau:Kênh hỗ trợ người dân về dịch bệnh Covid-191. "Kênh tiếp nhận thông tin, tư vấn về tình hình sức ...
 
​Ngày 01/7/2021 Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo đó, mức thu, các trường hợp miễn phí và chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí được quy định cụ thể như sau:Mức thu ...
 
​Tại kỳ họp thứ nhất, khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026, Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh đã thông qua Nghị quyết số 07/2021/NQ-HĐND ngày 01/7/2021 quy định mức thu, chế độ thu, nộp lệ phí hộ tịch trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/7/2021. Về cơ bản, đa số mức thu lệ phí các việc đăng ký hộ tịch và đối tượng miễn lệ phí theo Nghị quyết đều như quy định trước đây ...
 
​Ngày 24/5/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 55/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/7/2021. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2021/NĐ-CP là cần thiết, nhằm không tạo ra khoảng trống pháp lý trong thời gian Luật BVMT năm 2020 và Luật sửa đổi, ...
 
Ngày 30 tháng 6 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2021/NĐ-CP về quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế. Nghị định này quy định về quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác điều ước quốc tế theo quy định của Luật Điều ước quốc tế và công tác thỏa thuận quốc tế theo quy định ...
 
​Người sử dụng là người phải quét mã QR khi vào/ra các địa điểm kiểm dịch (là các tổ chức, cơ quan, cơ sở kinh doanh, ….) gồm nhân viên, công nhân, người đến liên hệ công tác, làm thủ tục hành chính,….1  Mục đích, tiện ích của  "Tây Ninh Smart"Sử dụng app di động "Tây Ninh Smart" để:+  Quét mã QR vào/ra điểm kiểm dịch;+  Khai báo sức khoẻ, khai báo y ...
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020

Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh được thành lập từ tháng 4/1998 theo Quyết định số 23/1998/QĐ-CT ngày 17/4/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định và TGPL cho nhiều đối tượng. Để phù hợp với các văn bản pháp luật cũng như tình hình thực tiễn của địa phương, Trung tâm TGPL đã qua hai lần kiện toàn (Quyết định số 2960/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 và Quyết định số 338/QĐ-UBND ngày 16/02/2011).

Trung tâm hiện tại có 02 Phòng gồm Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ. Trung tâm có chức năng thực hiện TGPL miễn phí cho người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo, người có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Trong 5 năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh đã tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do Sở Tư pháp phát động, công tác TGPL trên toàn quốc nói chung và tại tỉnh Tây Ninh nói riêng đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường triển khai thực hiện chương trình xóa nghèo về pháp luật của Đảng và Nhà nước ta dành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội. TGPL đã thật sự mang một màu sắc mới và đang từng ngày thay da đổi thịt, đã góp phần thiết thực trong việc bảo đám quyền công dân, quyền con người trong tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hàng triệu người có vướng mắc pháp luật.

Từ năm 2015 – 2020, trên cơ sở kế hoạch công tác TGPL được được Sở Tư pháp phê duyệt, Trung tâm TGPL nhà nước bám sát vào kế hoạch để triển khai thực hiện, trong giai đoạn 2015-2020, tổng số vụ việc tiếp nhận thực hiện TGPL là 2.734 vụ việc (trong đó tham gia tố tụng hàng năm từ 200 – 250 vụ, việc), tư vấn pháp luật những vụ việc đơn giản và giải đáp những thắc mắc cho hơn 1.000 lượt người tại trụ sở và thông qua các đợt truyền thông về công tác TGPL; tổ chức 03 đợt tập huấn nghiệp vụ TGPL và triển khai văn bản pháp luật, có 377 người; tổ chức 265 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở.

Ngoài ra, hàng năm Trung tâm còn phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức từ 05 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở, tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc theo quy định. Xây dựng quy trình lựa chọn luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với 10 luật sư trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Tổ chức biên soạn và in ấn nhiều loại tài liệu pháp luật, bảng thông tin TGPL để cấp phát cho Nhân dân trong các đợt truyền thông và các cơ quan liên quan như: Trường học, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Bảo trợ xã hội.

Những năm gần đây, tỷ lệ vụ án có Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL ngày càng tăng, chiếm số lượng từ 70 - 80%  số vụ việc TGPL mà Trung tâm thụ lý. Tất cả các Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm tham gia tố tụng đều đạt chỉ tiêu khá trở lên theo quy định của Bộ Tư pháp.

Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý luôn thực hiện nhiệm vụ với tinh thần nhiệt huyết, quyết tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL một cách tốt nhất, đã và đang đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng trong những vụ việc bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa theo quy định, từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình, tạo được niềm tin của Nhân dân đối với chính sách TGPL.

Để ghi nhận thành tích đã đạt được, liên tục trong nhiều năm liền, Trung tâm đều được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là tập thể lao động xuất sắc, từ năm 2015 đến nay Trung tâm 02 lần được Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua, được tặng 04 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Từ những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua, vào ngày 18/8/2020 tại Đại hội Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ 5 được tổ chức tại Hội trường Tỉnh ủy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng. Cũng tại Đại hội này, đồng chí Lê Minh Hiền, Giám đốc Trung tâmTrợ giúp pháp lý nhà nước được vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng.

Hy vọng Trung tâm ngày càng phát triển để trở thành cầu nối giữa Nhà nước với Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước./.

                                                        Ngọc Linh – Trung tâm TGPL nhà nước

8/24/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinThông báoTrung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020/HoatDongAnh/2020-08/huanchuongtgpl_Key_25082020083730.jpg
8/24/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020

Vào ngày 22/10/2020, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nhà tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.

Tham dự Đoàn kiểm tra có Lãnh đạo Sở Tư pháp, TAND tỉnh, VKSND tỉnh; Sở Tài chính; Đại diện một số ngành thành viên: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Trung tâm TGPL nhà nước. Lãnh đạo Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn.

Nội dung kiểm tra liên quan đến kết quả tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10, chú trọng trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền được TGPL cho người tham gia tố tụng.

Qua kết quả kiểm tra, Hội đồng nhận thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành có thực hiện việc giải thích, thông báo về TGPL; niêm yết Bảng thông tin về TGPL, đặt Hộp tin TGPL; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL; thực hiện việc đăng ký bào chữa; đăng ký bảo vệ; giao các văn bản tố tụng cho người thực hiện TGPL theo quy định của Thông tư liên tịch số 10. Bảo đảm cho người thực hiện TGPL khi tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng và pháp luật về TGPL.

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại hai đơn vị được kiểm tra có thực hiện việc giải thích về quyền TGPL cho các đối tượng theo quy định. Thông báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thông báo lịch xét xử cho người thực hiện TGPL; ghi rõ ràng và cụ thể trong bản án, các quyết định về thông tin của người thực hiện TGPL và ghi rõ ý kiến hoặc quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thực hiện TGPL.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, Hội đồng đã chỉ ra những mặt còn hạn chế trong việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10. Cụ thể là Nhà Tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành chưa thực hiện việc niêm yết Tờ thông tin về TGPL trong buồng tạm giữ, buồng tạm giam theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 10, Thông tư liên tịch số 10. Có một số trường hợp chưa thực hiện việc giải thích, thông báo, thông tin TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Để tăng cường việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, Hội đồng cũng đã hướng dẫn cho các đơn vị được kiểm tra cũng như các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh thực hiện quy trình giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Ngoài ra, Hội đồng cũng đã đề nghị ngành thành viên của Hội đồng nghiêm túc thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Công văn 849/UBND-NCPC ngày 27/4/2020. Đối với các ngành thành viên là các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án: chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Thông tư liên tịch số 10 và các luật, bộ luật tố tụng có liên quan trong hệ thống của ngành; phát huy và thực hiện tốt vai trò là thành viên Hội đồng.

Công tác TGPL là một chính sách nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đặc biệt là những người nghèo, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh đặc biệt đồng thời cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đó thực hiện tốt công tác TGPL cũng như là thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước phân công./.

                                                          Ngọc Linh

11/5/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLBài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020/HoatDongAnh/2020-11/tgpl_Key_05112020085254.5_Key_05112020085254.11_Key_05112020085254.2020_Key_05112020085254.png
11/5/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021

Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/3/2021, HĐND và UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 08 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 01 Nghị quyết và 07 Quyết định. Cụ thể:

Về Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có 01 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 23/3/2021 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tỉnh và chính sách hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tỉnh Tây Ninh giai đọn 2017-2020. Theo đó Nghị quyết quy định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 theo chuẩn quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 đến hết ngày 31/12/2021.

Về quyết định của UBND tỉnh có 07 quyết định, gồm:

Quyết định số 01/2021/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Quyết định gồm 06 Điều trong đó có quy định về: Hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021 chung cho tất cả các loại đất ở các khu vực nông thôn, khu vực đô thị, Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài và Khu kinh tế Cửa khẩu Xa Mát; các trường hợp áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 01 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thay thế Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020 và Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020.

Quyết định số 02/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2030. Theo đó mật độ chăn nuôi tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được quy định như sau: (i) Thành phố Tây Ninh: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,26 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,40 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ii) Thị xã Hòa Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,39 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iii) Thị xã Trảng Bàng: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 1,08 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iv) Huyện Châu Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,91 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (v) Huyện Dương Minh Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,97 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vi) Huyện Tân Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,65 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,80 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vii) Huyện Tân Biên: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,53 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (viii) Huyện Gò Dầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,41 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,00 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ix) Huyện Bến Cầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,93 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Tại địa bàn cấp huyện có mật độ chăn nuôi đã đạt tới quy định thì chỉ cho đầu tư đối với những dự án chăn nuôi phù hợp chiến lược phát triển chăn nuôi, công nghệ chăn nuôi và môi trường sinh thái nhưng phải đảm bảo mật độ chăn nuôi trên toàn tỉnh không vượt quá 1,5 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021.

Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Theo đó Quy chế quy định về nguyên tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; các thành viên UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với UBND tỉnh chịu sự điều chỉnh của Quy chế này. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021, thay thế Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND ngày 20/10/2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND ngày 28/01/2021 phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó quyết định một số nội dung phân cấp nổi bật cho UBND cấp huyện như: Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm thuộc phạm vi phân cấp quản lý; lưu trữ có hệ thống các hồ sơ liên quan đến hoạt động kiểm tra việc thực hiện nội dung đã cam kết, thẩm định các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi phân cấp quản lý; thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn theo phân cấp quản lý, định kỳ trước ngày 01 của tháng cuối quý hoặc đột xuất theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/02/2021 và thay thế Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

          Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND ngày 18/3/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Quyết định số 35/2017/QD-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định giá dịch vụ tối đa sử dụng phà trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo đó quyết định đã sửa đổi quy định "Tổ chức và cá nhân thu giá dịch vụ sử dụng phà không do nhà nước đầu tư có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định hiện hành". Quyết định này được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/3/2021.

          Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định về tổ chức, chế độ, chính sách và trang bị đối với lực lượng Bảo vệ dân phố trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021 và thay thế các Quyết định số 07/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 12/2013/QĐ-UBND, Quyết định số 63/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND.

          Quyết định số 07/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Ban quản lý Vườn Quốc gia Lò gò – Xa mát. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021/HoatDongAnh/2021-04/2_Key_02042021143150.hong_Key_02042021143150.22_Key_02042021143150.3_Key_02042021143150.2020_Key_02042021143150.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Áp dụng chế định “Lẽ công bằng” theo Bộ luật tố tụng Dân sự 2015Áp dụng chế định “Lẽ công bằng” theo Bộ luật tố tụng Dân sự 2015

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt là BLTTDS 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2016, có những chế định mới liên quan trực tiếp tới công tác xét xử các vụ án dân sự, trong BLTTDS 2015 có một chế định pháp lý rất mới, đó là Lẽ công bằng. Đây là khái niệm chưa từng thể hiện trong các văn bản pháp luật. 

Không phải tự nhiên mà BLTTDS 2015 lại có một khái niệm mới mẻ về lẽ công bằng như vậy. Điều này vốn xuất phát từ Hiến pháp năm 2013, một đạo luật quan trọng nhất trong hệ thống văn bản pháp luật nước ta đã quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Theo Điều 45, BLTTDS 2015 thì "Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó".  Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật.

Như vậy, lẽ công bằng bây giờ không phải chỉ là phạm trù đạo đức hay là nhận thức chủ quan của thẩm phán nữa mà là những khuôn khổ pháp luật được khuôn định bởi BLTTDS 2015 và bắt buộc phải áp dụng nếu có đủ điều kiện để xử án. Theo đó, khi có những vụ việc dân sự, mặc dù pháp luật không quy định, không có các điều luật để áp dụng, không có tập quán, tương tự pháp luật hay án lệ thì Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết, và việc giải quyết này sẽ được thực hiện theo nguyên tắc "Lẽ công bằng".

Vừa qua, một TAND huyện trong tỉnh đã xét xử một vụ án, áp dụng chế định lẽ công bằng như nêu trên. Trong thời gian sống chung với anh T và chị L (Chị L là vợ sau của anh T), cháu A và cháu B thường bị anh T và chị L nhiều lần đánh đập, hành hạ. Năm 2019, anh T bị TAND tỉnh hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên, không cho trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng của cháu B hoặc đại diện theo pháp luật cho cháu B trong thời hạn 3 năm. Tòa án cũng giao cháu B cho bà ngoại của cháu B nuôi dưỡng, là người đại diện cho cháu theo quy định của pháp luật.

Cháu B có một phần tài sản được hưởng thừa kế từ mẹ ruột do anh T quản lý vì cháu B là người dưới 18 tuổi (Do trước đây đã thực hiện thủ tục thỏa thuận phân chia di sản). Anh T là người đại diện pháp luật đứng tên trên suất thừa kế của cháu B với điều kiện phải sử dụng tài sản trên để nuôi dưỡng, chăm sóc lo cho cháu ăn học khi đến tuổi trưởng thành và với sự giám sát của A chị gái của B. Tuy nhiên, anh T không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của cha đối với con, không nuôi dưỡng con ruột và hành hạ, đánh đập cháu B.

Vì vậy, bà ngoại của cháu B khởi kiện yêu cầu anh T trả lại tài sản là quyền sử dụng đất cho cháu B. Trong khi đó anh T cho rằng cháu B là trẻ em, chưa đến 18 tuổi nên không trả lại phần đất thừa kế cho cháu, nếu có trả thì buộc cháu B phải thanh toán lại công trình phụ, cây trái trên phần đất đang tranh chấp vì anh đã đầu tư canh tác tốn rất nhiều công sức và tiền bạc.

Tòa án nhận định, sau khi mẹ cháu B chết, anh T đã không làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng nên cháu B về sống với bà ngoại. Anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong khi anh sử dụng phần đất cháu B được thừa kế cũng như những di sản mà mẹ cháu B để lại có thu nhập hàng ngày. Khi anh T xây dựng và trồng cây trên đất đã không thông qua ý kiến của người giám sát là cháu A (cháu A là chị ruột của cháu B, được Tòa án giao quyền giám việc anh T sử dụng tài sản của cháu B). Đồng thời vì tình nghĩa cha con, cháu B là trẻ em, không thể tự mình lao động để nuôi sống bản thân mà phải sống phụ thuộc vào bà ngoại nuôi dưỡng nên không có tiền để trả lại cho anh T.

Khi buộc anh T giao trả đất cho cháu B, Toà án có xem xét đến việc không phải thanh toán lại cho anh T tiền giá trị công trình xây dựng và cây trái trên đất. Bởi lẽ, trong quá trình anh T và chị L sử dụng diện tích đất, cây trái trên đất có một phần là di sản của mẹ cháu B để lại nhưng bà ngoại cháu B, cháu A không yêu cầu chia mà để lại cho anh T sử dụng. Hơn nữa, anh T không làm tròn nghĩa vụ làm cha, không cấp dưỡng nuôi con nhưng bà ngoại cháu B vẫn không yêu cầu. Để bảo vệ quyền và lợi ích cho con chưa thành niên, cháu B là trẻ em và theo "Lẽ công bằng" thì những tài sản trên đất nằm trong phần diện tích giao cho cháu B được quyền quản lý mà không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại cho anh T và chị L là phù hợp.

                                                                     Ngọc Linh

1/15/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLÁp dụng chế định “Lẽ công bằng” theo Bộ luật tố tụng Dân sự 2015/HoatDongAnh/2021-01/1_Key_15012021152037.TGPL_15_1_2021_Key_15012021152037.jpg
1/15/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Tăng cường công tác tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnhTăng cường công tác tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh

Nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng xã hội có mối liên hệ mật thiết với nhau, Nhà nước không thể tồn tại thiếu pháp luật; ngược lại pháp luật chỉ hình thành, phát triển và phát huy hiệu lực bằng con đường Nhà nước.

Nhà nước tác động tới các quan hệ xã hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý bằng nhiều cách thức, hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật hay hoạt động xây dựng pháp luật là một trong những hoạt động cơ bản của cơ quan quyền lực, hoạt động này có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng cũng như hiệu quả của quản lý Nhà nước.

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 2118/UBND-NCPC về việc tiếp tục triển khai thực hiện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh. Theo đó, để thực hiện tốt hơn nữa quy định về trình tự, thủ tục, quy trình tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (viết tắt là Luật), Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (gọi tắt là Nghị định số 34/2016/NĐ-CP) và đảm bảo tính kịp thời trong công tác tham mưu ban hành văn bản, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố căn cứ chức năng, nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý kịp thời rà soát tham mưu trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành hoặc trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành các văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và những văn bản theo quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 27; khoản 2, khoản 3 Điều 28 của Luật đúng quy trình và tiến độ đề ra.

Đồng thời, Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tiếp tục quán triệt, phổ biến quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật và Nghị định 34/2016/NĐ-CP đến toàn thể cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị, ngành, địa phương mình để thực hiện đúng quy định.

Trên cơ sở đó, Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Tư pháp theo dõi, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện việc tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đúng quy định và tiếp tục nâng cao vai trò, trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật và kịp thời xử lý văn bản quy phạm pháp luật có sai sót theo đúng quy định của Luật và Nghị định 34/2016/NĐ-CP./.

                                                                                  Ngọc Giàu

10/17/2019 11:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng XD&KTVBQPPLTăng cường công tác tham mưu xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh/HoatDongAnh/2019-10/pc2_Key_17102019105118.png
10/17/2019 11:00 AMYesĐã ban hành
Lễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư phápLễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp

Chiều ngày 29/7/2021, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp. Đến tham dự buổi lễ có Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp và các đồng chí đại diện các đoàn thể, lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở.

thanhnien2021_3_17.1.jpg

 

Ông Phạm Văn Đặng - Giám đốc Sở Tư pháp trao Quyết định

nghỉ hưu cho bà Nguyễn Thị Kim Hương

 

Tại buổi lễ, ông Phạm Văn Đặng - Giám đốc Sở Tư pháp trao Quyết định số 1017/QĐ-STP ngày 29/4/2021 của Sở Tư pháp về việc việc nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, phát biểu ghi nhận, biểu dương và cảm ơn bà Nguyễn Thị Kim Hương vì đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp phát triển của ngành tư pháp nói chung và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng. Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị bà Nguyễn Thị Kim Hương sau khi nghỉ hưu với năng lực, kinh nghiệm của mình sẽ tiếp tục theo dõi, đồng hành, tham gia đóng góp xây dựng địa phương và ngành tư pháp tỉnh nhà, nhất là trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.


thanhnien2021_3_17.2.jpgthanhnien2021_3_17.3.jpg

Ban Giám đốc Sở Tư pháp chụp hình lưu niệm cùng bà Nguyễn Thị Kim Hương

Trước sự quan tâm của lãnh đạo lãnh đạo Sở Tư pháp và đồng nghiệp cơ quan, bà Nguyễn Thị Kim Hương xúc động phát biểu lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Ban Giám đốc Sở Tư pháp và công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở đã gắn kết, phối hợp, hỗ trợ và giúp đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời chúc các đồng chí đương nhiệm tiếp tục cống hiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó. Riêng về phần mình, đồng chí hứa sẽ tiếp tục gắn kết, tham gia, đóng góp công sức vào việc xây dựng ngành Tư pháp địa phương ngày càng phát triển.


thanhnien2021_3_17.4.jpg

Bà Nguyễn Thị Kim Hương phát biểu tại buổi Lễ

 

(Đắc Hiển)


8/5/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnLễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp/HoatDongAnh/2021-08/thanhnien2021_3_17_Key_05082021143142.1_Key_05082021143142.jpg
8/5/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Kết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019Kết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019

Thực hiện Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Nghị định 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; kế hoạch thanh tra năm 2019 đã được phê duyệt.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tư pháp nói chung, quản lý về luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư nói riêng; qua thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); phát hiện các sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục, điều chỉnh, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội.

 Thực hiện theo Quyết định số 377/QĐ-STP ngày 25/02/2019 của Giám đốc Sở Tư pháp về việc thanh tra chuyên ngành về tổ chức, hoạt động luật sư của tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019 của Sở Tư pháp. Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra theo Kế hoạch số 07/KH-ĐTTr ngày 25/02/2019 tại Công ty luật TNHH MTV Bảo Pháp vào ngày 14/3/2018, Văn phòng Luật sư Trần Minh Tuấn vào ngày 15/3/2019, Chi nhánh văn phòng luật sư Hằng Nguyễn vào ngày 19/3/2019, Công ty luật TNHH MTV Bảo Minh Lý vào ngày 20/3/2019 và Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh Hùng vào ngày 21/3/2019.

Tại Kết luận thanh tra số 817/KL-STP ngày 17/4/2019, Giám đốc Sở ghi nhận kết quả những mặt làm được của các đơn vị được thanh tra như sau:

- Đa số các đơn vị có trụ sở làm việc, trang thiết bị được đầu tư tốt, hoạt động đúng địa chỉ đăng ký; biển hiệu ghi đúng theo Giấy đăng ký hoạt động.

- Thực hiện việc trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của  người dân đúng theo quy định.

- Chấp hành tốt các quy định của Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động, chấp hành đầy đủ sự phân công của Đoàn luật sư đối với các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng mời.

- Có tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ và mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư.

- Thực hiện nghĩa vụ thuế, tài chính đúng theo quy định.

Tuy nhiên, bên cạnh đó các tổ chức hành nghề luật sư được thanh tra có một hoặc một vài hạn chế, sai sót như sau:

 - Không có lập phiếu thu và không lập phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý với khách hàng theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp, thực hiện xong dịch vụ pháp lý với khách hàng nhưng chưa tiến hành thanh lý hợp đồng.

- Đã thay đổi địa chỉ trụ sở nhưng đến thời điểm thanh tra chưa thông báo cho Sở Tư pháp theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012.

- Chưa thực hiện việc báo cáo tài chính năm 2018.

- Chưa thực hiện việc báo cáo về tổ chức và hoạt động định kỳ 06 tháng theo Thông tư 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp.

- Chưa lập sổ theo dõi quá trình tập sự của người tập sự theo Thông tư 19/2013/TT-BTP ngày 28/11/2013 của Bộ Tư pháp.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu các tổ chức hành nghề  luật sư được thanh tra cần rút kinh nghiệm, tiến hành các biện pháp để khắc phục ngay các hạn chế, sai sót đảm bảo chấp hành đúng các quy định của pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

Thanh tra Sở

6/13/2019 4:00 PMĐã ban hànhTin Luật sưTinThanh TraKết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019/HoatDongAnh/2019-06/thanhtraso1362019_Key_13062019154930.jpg
6/13/2019 4:00 PMYesĐã ban hành
Những hạn chế, sai sót qua kết quả kiểm tra chuyên ngành về công tác chứng thực tại UBND cấp xã năm 2020Những hạn chế, sai sót qua kết quả kiểm tra chuyên ngành về công tác chứng thực tại UBND cấp xã năm 2020

Thực hiện theo Quyết định số 1226/QĐ-STP ngày 22/5/2020 về việc kiểm tra chuyên ngành về công tác chứng thực tại UBND cấp xã theo kế hoạch năm 2020, Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra chuyên ngành đối với 06 UBND cấp xã.

 Việc kiểm tra công tác chứng thực tại UBND cấp xã nhằm đánh giá tình hình và kết quả triển khai công tác chứng thực theo quy định, cũng như tăng cường vai trò, trách nhiệm về công tác chứng thực. Thông qua đó, kịp thời phát hiện và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bất cập; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh.

Qua kết quả kiểm tra, ngoài đánh giá một số kết quả đạt được Sở Tư pháp còn chỉ ra các hạn chế, sai sót như sau:

 1. Còn một số hồ sơ có sai sót về trình tự thủ tục chứng thực; thành phần hồ sơ lưu chưa đúng quy định (thiếu hoặc dư), cụ thể:

- Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế: Thiếu giấy tờ nhân thân của những người thừa kế, tên gọi văn bản ghi chưa đúng.

- Hợp đồng, giao dịch: Thiếu giấy tờ nhân thân của các bên tham gia giao dịch.

- Người có thẩm quyền giao kết hợp đồng tín dụng ký trước vào hợp đồng (không ký trước mặt người ký chứng thực) nhưng không có đăng ký chữ ký mẫu tại cơ quan thực hiện chứng thực.

- Hợp đồng, giao dịch: Thành phần hồ sơ lưu dư các giấy tờ không cần thiết.

- Hợp đồng thuê: Nội dung hợp đồng cho thuê lại vượt quá nội dung hợp đồng ban đầu; bên cho thuê lại vi phạm hợp đồng thuê ban đầu; cho thuê lại chưa được sự đồng ý của bên cho thuê ban đầu; nội dung hợp đồng thuê ban đầu quy định chưa phù hợp giữa quyền và nghĩa vụ của các bên.

- Chứng thực chữ ký trong văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.

- Chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội: Hộ gia đình có nhiều người nhưng chỉ chứng thực chữ ký của một người.

- Người yêu cầu chứng thức, người tiếp nhận hồ sơ và người thực hiện chứng thực chưa ký vào từng trang của hợp đồng.

- Việc chứng thực chữ ký trên giấy tặng cho, mua bán xe chưa đảm bảo theo quy định: bên bán không có ý kiến của đồng sở hữu và cũng không có giấy tờ chứng minh tài sản riêng (trường hợp đã có vợ/chồng) hoặc Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

- Chứng thực chữ ký đối với văn bản có nội dung hợp đồng, giao dịch không đúng theo Điều 25 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

- Chứng thực chữ ký trong giấy ủy quyền không thuộc quy định tại Điều 14 Thông tư 01/2020/TT-BTP.

2. Sai sót trong việc mở sổ chứng thực; ghi sổ chứng thực; lưu trữ sổ và hồ sơ chứng thực:

- Bìa sổ chứng thực chưa đúng theo mẫu quy định tại phụ lục của Nghị định 23/2015/NĐ-CP.

- Sổ chứng thực năm 2019 chưa đóng dấu giáp lai từ trang đầu đến trang cuối, chưa khóa sổ theo quy định, chưa ghi ngày mở sổ; không bảo quản sổ cẩn thận, sổ bị rách, viết số thứ tự chưa liên tục.

- Không ghi đầy đủ các cột, mục trong sổ như: Cột họ tên, chức danh người ký chứng thực; cột lệ phí, phí chứng thực.

- Thực hiện chứng thực chữ ký nhưng không vào Sổ chứng thực chữ ký.

- Mở sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch chưa đúng quy định tại khoản 4 Điều 13 Nghị định 23/2015/NĐ-CP (đơn vị không mở chung 01 sổ mà tách ra theo từng loại vụ việc cụ thể như: sổ chứng thực hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, Sổ chứng thực hợp đồng tặng cho QSDĐ, hợp đồng thế chấp QSDĐ…).

3. Việc thực hiện thu phí chứng thực có vụ việc thu chưa đúng quy định:

Thu phí chứng thực bản sao từ bản chính không đúng quy định của Thông tư số 226/2016/TT-BTC. Cụ thể thu không theo trang bản chính mà theo trang bản sao nên tất cả các trường hợp chứng thực bản sao từ bản chính chứng minh nhân dân đều thu 2.000 đồng.

4. Thực hiện lời chứng: Ghi không đầy đủ nội dung hoặc ghi không đúng mẫu quy định.

  Để nâng cao chất lượng công tác chứng thực, chấn chỉnh, khắc phục các hạn chế, sai sót trong công tác chứng thực trên địa bàn tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị các Phòng Tư pháp (nơi được kiểm tra) thường xuyên tổ chức kiểm tra để kịp thời hướng dẫn UBND cấp xã thực hiện tốt công tác chứng thực, tổ chức chức quán triệt nội dung Kết luận kiểm tra trong toàn đơn vị, nghiêm túc rút kinh nghiệm và khắc phục ngay những tồn tại hạn chế theo Kết luận của Sở Tư pháp; Báo cáo UBND huyện tình hình chấp hành các quy định pháp luật về chứng thực, đồng thời tham mưu có giải pháp xử lý các đơn vị không khắc phục những tồn tại, hạn chế mà Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp đã kết luận

Đối với các Phòng Tư pháp còn lại căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương và căn cứ Kết luận kiểm tra công tác chứng thực, thực hiện tự rà soát lại công tác này để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục trong thời gian tới./.

                                                                                                      Thanh tra Sở


10/29/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThanh TraNhững hạn chế, sai sót qua kết quả kiểm tra chuyên ngành về công tác chứng thực tại UBND cấp xã năm 2020/HoatDongAnh/2020-10/chungthuc_Key_29102020145236.jpg
10/29/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Cẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyềnCẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyền

Hiện nay, tình trạng mua bán nhà đất qua hợp đồng ủy quyền khá phổ biến bởi thủ tục mua bán nhanh gọn. Thực ra, đây là một loại giao dịch giả tạo để che đậy một giao dịch khác nhằm mục đích "né" thuế.

Với hợp đồng ủy quyền, người có tài sản và Quyền sử dụng đất ủy quyền cho một người khác được phép bán tài sản và Quyền sử dụng đất. Người mua chính là người được ủy quyền nhưng không muốn làm thủ tục sang tên mà chờ tìm người mua tiếp theo.

Như trường hợp một số cá nhân kinh doanh bất động sản đến từ các tỉnh khác, lợi dụng người dân không am hiểu pháp luật hợp thức hóa việc chuyển nhượng bằng các hợp đồng ủy quyền được công chứng. Kiểu giao dịch này gây khó khăn trong công tác quản lý đất đai và quản lý thuế. Vì nếu thông qua việc làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì các bên giao dịch phải nộp thuế thu nhập cá nhân 2% và lệ phí trước bạ 0,5%.

Bản chất hợp đồng ủy quyền

Về vấn đề này, văn bản ủy quyền (hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền) được thực hiện theo Bộ Luật Dân sự và Luật Đất đai, Luật Nhà ở. Việc liên quan đến chuyển nhượng thì bắt buộc văn bản ủy quyền phải được công chứng (Phòng/Văn phòng công chứng) hoặc chứng thực (UBND cấp xã/phường).

Đối với các bên, bên được ủy quyền có trách nhiệm thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền và bên ủy quyền chịu trách nhiệm về kết quả của công việc. Ngoài ra, các bên còn phải chịu sự điều chỉnh chung về quyền và nghĩa vụ dân sự. Đối với việc ủy quyền có quy định cho phép ủy quyền lại thì việc ủy quyền lại còn chịu sự quy định điều chỉnh về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ (Điều 365 – Điều 370 Bộ Luật Dân sự).

Hình thức hợp đồng ủy quyền được quy định tại Điều 562 – Điều 569 Bộ Luật Dân sự, trong đó có quy định việc ủy quyền lại phải có sự đồng ý của bên ủy quyền (Điểm a Khoản 1 Điều 564). Tuy nhiên, trên thực tế, các đơn vị công chứng đang cố ý không thực hiện đúng quy định, khi lập văn bản ủy quyền lại hoàn toàn không có xác thực sự đồng ý của bên ủy quyền.

Mặc dù hợp đồng ủy quyền có quy định cho phép bên nhận ủy quyền được ủy quyền lại nhưng đây chỉ là "thỏa thuận" tại thời điểm lập hợp đồng ủy quyền thứ nhất. Đây chỉ là quyền, phạm vi ủy quyền chứ không phải là "sự đồng ý" của bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải được biết và được quyền đồng ý hay từ chối khi bên nhận ủy quyền lại là ai.

"Bản chất của việc ủy quyền là thông qua người khác để thực hiện công việc thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, ít chi phí hơn hoặc thậm chí là vì hoàn cảnh đặc biệt như chủ sở hữu là nhiều người, ở xa, đi làm ăn ở xa,… và với điều kiện uy tín, nhận thức, điều kiện của người nhận thực hiện công việc ủy quyền. Nếu lạm dụng quá sẽ có nhiều rủi ro không những cho người ủy quyền (bị ép với giá rẻ, bị siết nợ khi vay tiền,…) mà người mua là người chịu rủi ro khi tiền mất mà tài sản có thể không được nhận, không được sử dụng".

Với các giao dịch ủy quyền cho người khác thực hiện công việc không phải là hoạt động chuyển nhượng bất động sản nên không chịu thuế thu nhập cá nhân. Trên thực tế, nhiều người giao dịch chuyển nhượng bất động sản bằng hợp đồng ủy quyền nhưng thực chất chỉ là các giao dịch giả cách. Nếu nhìn vào cũng thấy các dấu hiệu như nội dung phạm vi ủy quyền rất chung chung và không xác định giao dịch cụ thể, khá mập mờ…

Rủi ro và những lưu ý

Về những rủi ro có thể gặp khi giao dịch qua hợp đồng ủy quyền, theo quy định giao dịch ủy quyền lần thứ nhất đã có những rủi ro nên với các giao dịch ủy quyền lại thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro cao hơn.

Rủi ro từ bên bán: Bên cạnh những nguy cơ như các giao dịch thông thường thì còn có nhiều rủi ro do bị che giấu thông tin như không kiểm tra được hồ sơ gốc về bên bán, có sự thay đổi giấy tờ cá nhân người ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền, người ủy quyền mất thì giao dịch ủy quyền không còn giá trị …

Rủi ro giao dịch giả cách: Với giao dịch giả cách mua bán, chuyển nhượng nhưng bằng văn bản ủy quyền lại thì dễ bị tuyên hợp đồng vô hiệu, tài sản bị diện tranh chấp, bị diện tẩu tán tài sản trốn tránh thi hành án,…

Rủi ro từ người được ủy quyền (ủy quyền lần thứ nhất) và người được ủy quyền lại: Những rủi ro giữa họ, rủi ro về người được ủy quyền lại mà chính bên bán cũng không biết họ là ai, họ đã làm gì đối với tài sản của bên bán hoặc bên chuyển nhượng.

"Những giao dịch ủy quyền và ủy quyền lại nếu gặp những giao dịch mà người được ủy quyền lạm quyền vượt quá phạm vi ủy quyền hoặc giao dịch giả cách hoặc kể cả trường hợp có tội phạm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, làm tài liệu giả,…) thì việc giải quyết sẽ rất khó vì không xác minh và điều tra được họ khi họ đã ôm tiền và cao chạy xa bay".

Để tránh những nguy cơ bị mất trắng khi giao dịch mua bán hoặc chuyển nhượng nhà đất bằng hình thức này, người mua cần hết sức cẩn trọng vì việc ủy quyền lại cho dù đúng bản chất cũng dễ gặp rủi ro. Với giao dịch giả cách mua bán nhưng bằng văn bản ủy quyền lại thì dễ bị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, tài sản bị diện tranh chấp, bị diện tẩu tán tài sản trốn tránh thi hành án,….

Bên mua hoặc bên nhận chuyển nhượng cần kiểm tra đúng bản chất bên bán hoặc bên chuyển nhượng không có điều kiện trực tiếp giao dịch, có hoàn cảnh đặc biệt nên mới phải ủy quyền và ủy quyền lại. Ví dụ: Cha, mẹ do điều kiện ở xa, già yếu… thì có thể ủy quyền cho con để đại diện; Vợ và chồng ủy quyền cho nhau; anh chị em ủy quyền cho nhau.

Bên mua cần liên hệ trực tiếp bên bán và bằng chứng xác nhận chính thức từ bên bán thông qua điện thoại, email hoặc có các văn bản từ người thân để được xác thực.

"Khi đề nghị chuyển tiền trực tiếp qua ngân hàng cho người bán để đảm bảo không bị người được ủy quyền lạm quyền vượt phạm vi ủy quyền và là cách kiểm tra ủy quyền thật hay chỉ là ủy quyền cho giao dịch giả cách".

                                                                                                            Tác giả Nguyễn Chí Thiện

                                                                                                    Phòng công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh

                                                                                                        (Sưu tầm từ trang www.cafeland.vn)

3/12/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC3Cẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyền/HoatDongAnh/2021-03/cc3_Key_12032021090142.3_Key_12032021090142.2020_Key_12032021090142.jpg
3/12/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

* Người có tài sản đấu giá: Công ty Điện lực Tây Ninh.


- Tài sản thanh lý vật tư thiết bị phế liệu, ứ đọng, chậm luân chuyển, tiêu chuẩn kỹ thuật cũ và cáp vụn lẻ đợt 01 năm 2021.

- Giá khởi điểm: 5.777.750.000 đồng. Tiền đặt trước: 870.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm), bản sao giấy CMND, Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đúng ngành nghề.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 13/8/2021 (thứ sáu). Xem tài sản trực tiếp từ ngày 22/7/2021 đến ngày hết hạn, tại nơi có tài sản.

- Tổ chức đấu giá: 14 giờ 30 phút, ngày 16/8/2021 (thứ hai).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

 Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


7/14/2021 5:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-07/hinh dau gia 3_Key_14072021162250.jpg
7/14/2021 5:00 PMNoĐã ban hành
Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuếQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2020/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế (viết tắt là Nghị định số 100/2020/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Theo đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế.

Về đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế được quy định tại Điều 3 Nghị định số 100/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

- Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

- Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa; khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế; khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.

- Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

Bên cạnh đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP cũng quy định rõ chính sách đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế có liên quan.

Đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế gồm: đồng Việt Nam; đồng USD, euro; đồng tiền của nước có chung biên giới đất liền với địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới; đồng tiền của quốc gia nơi các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thực hiện nhập cảnh, quá cảnh tại quốc gia đó.

                                                                                                    KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc03_Key_03112020143313.11_Key_03112020143313.2020_Key_03112020143313.1_Key_03112020143313.png
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tậtChính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật
Nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; nâng cao nhận thức của cộng đồng về các quyền của người khuyết tật; tăng cường năng lực trợ giúp pháp lý và hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, ngày 04/02/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch năm 2013 Triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.

 

Theo đó, Kế hoạch được triển khai với 04 nội dung chủ yếu, gồm: Tăng cường hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; Tăng cường năng lực thực hiện trgiúp pháp lý cho người khuyết tật; Thực hiện tr giúp pháp lý cho người khuyết tật; Kiểm tra, đánh giá, báo cáo việc triển khai thực hiện Kế hoạch

Đối với hoạt động truyền thông, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Tây Ninh xây dựng nội dung trợ giúp pháp lý cho người khuyết tt trong chuyên mục chung về trợ giúp pháp lý trên Đài Truyền thanh huyện, thị xã, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, Báo Tây Ninh, Tờ tin Tư pháp Tây Ninh; In ấn, phát hành các tờ gấp, cẩm nang pháp luật… truyền thông về trợ giúp pháp lý và quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật; Xây dựng và lắp đặt Bảng thông tin và Hộp tin về trợ giúp pháp lý tại trụ sở Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh; Lồng ghép việc truyền thông, phbiến pháp luật và trgiúp pháp lý cho người khuyết tật, tuyên truyền về quyền được trợ giúp pháp lý và các quyền, nghĩa vụ khác của người khuyết tật tại các đợt TGPL lưu động.

Để tăng cường năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp xây dựng tài liệu, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ cộng tác viên, thành viên các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý.

Trung tâm Trợ giúp pháp lý chủ động phối hợp Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý của người khuyết tật. Thực hiện Trợ giúp pháp lý (tư vấn pháp luật, tham gia ttụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác) cho người khuyết tật tại trụ sở Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm khi có yêu cầu. Tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động, tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã, phường, thị trn nơi có nhiều người khuyết tật; tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh.

Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện Kế hoạch. Thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá, đề xuất, kiến nghị việc thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật và báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch này ở địa phương. Tổ chức sơ kết, tổng hợp và báo cáo Bộ Tư pháp hoạt động triển khai thực hiện Kế hoạch.

Sở Lao động Thương binh và xã hội có trách nhiệm cung cấp danh sách người khuyết tật cư trú trên địa bàn tỉnh, địa chỉ nơi có nhiều người khuyết tật sinh sống, làm việc cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý khảo sát nhu cầu TGPL của người khuyết tật. Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình thường xuyên tuyên truyền phổ biến chính sách TGPL cho người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, kịp thời phát hiện và giới thiệu đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý những người khuyết tật có nhu cầu được trợ gúp pháp lý.

Trên cơ sở dự toán kinh phí của Sở Tư pháp, Sở Tài chính có trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh cấp để tổ chức thực hiện.

Báo Tây Ninh, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến chính sách trợ giúp pháp lý của nhà nước cho người khuyết tật, kịp thời phản ánh với Sở Tư pháp và các cơ quan chức năng có liên quan những trường hợp người khuyết tật có nhu cầu được trợ giúp pháp lý./.

                                                                                Ngọc Linh

 

4/17/2013 4:40 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lý(None)Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; nâng cao nhận thức của cộng đồng về các quyền của người khuyết tật; tăng cường năng lực trợ giúp pháp lý và hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, ngày 04/02/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch năm 2013 Triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.
4/17/2013 4:40 PMNoĐã ban hành
Quy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sưQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2019/TT-BTP). Thông tư số 02/2019/TT-BTP có hiểu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư.

Thông tư số 02/2019/TT-BTP có 5 chương, 21 điều, cụ thể: Chương I: quy định chung gồm 02 điều, từ Điều 1 đến Điều 2; Chương II: Thực hiện bồi dưỡng gồm 06 điều, từ Điều 3 đến Điều 8; Chương III: Quyền, trách nhiệm thực hiện bồi dưỡng và các mẫu giấy tờ kèm theo gồm 07 điều, từ Điều 9 đền Điều 15; Chương IV: Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo gốm 04 điều, từ Điều 16 đến Điều 19; Chương V: Tổ chức thực hiện gồm 02 điều, từ Điều 20 đến Điều 21. Sau đây là một vài nội dung cơ bản của Thông tư số 02/2019/TT-BTP.

Theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP, tùy vào yêu cầu bồi dưỡng bắt buộc hàng năm, nội dung bồi dưỡng bao gồm một hoặc một số nội dung sau:

- Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư;

- Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật;

- Kỹ năng hành nghề luật sư và kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động hành nghề luật sư;

- Kỹ năng quản trị tổ chức hành nghề luật sư.

Việc bồi dưỡng được tổ chức dưới hình thức khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư.

Đồng thời, tại Điều 5 Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định thời gian tham gia bồi dưỡng tối thiểu là 8 giờ/năm. Ngoài ra, Luật sư được tính quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng trong năm đó khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Viết bài nghiên cứu pháp luật được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước hoặc nước ngoài; viết sách, giáo trình được xuất bản về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư hoặc kỹ năng hành nghề luật sư;

- Tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật, cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia giảng dạy các khóa bồi dưỡng hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư theo quy định của Thông tư này;

- Tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo chức danh tư pháp;

- Tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài;

- Tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm từ 01 ngày trở lên về các nội dung theo quy định tại Điều 3 của Thông tư này do Sở Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức.

Luật sư tham gia bồi dưỡng được quy đổi trong các trường hợp nêu trên thì 01 lần tham gia và hoàn thành được tính bằng 08 giờ thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng.

Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định rõ các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm cụ thể như sau:

- Luật sư đang làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Nữ luật sư có con dưới 12 tháng tuổi được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm;

- Luật sư vì lý do bệnh tật có đơn đề nghị và được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư xác nhận;

- Luật sư từ đủ 70 tuổi trở lên và có trên 20 năm hành nghề luật sư;

- Luật sư phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh và thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên có Giấy chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Như vậy, Thông tư số 02/2019/TT-BTP đã quy định cụ thể, chi tiết nội dung, hình thức, thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc cũng như các trường hợp được quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc và các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, . . . đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ của Luật sư theo quy định của pháp luật./.

 

Phòng Bổ trợ Tư pháp

7/30/2019 8:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinBTTPQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư/HoatDongAnh/2019-07/bttpngay30_Key_30072019073426.07_Key_30072019073426.2019_Key_30072019073426.png
7/30/2019 8:00 AMYesĐã ban hành
Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện

Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

 

Ngày 22/06/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 80/2015/QH13 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế cho Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ra đời (gọi tắt là Luật), có sự kế thừa và phát triển việc áp dụng thống nhất trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và của địa phương nói riêng. Để công tác văn bản ở địa phương được áp dụng thống nhất, Sở Tư pháp giới thiệu về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh như sau:

I. Xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Quy trình, hồ sơ xây dựng ban hành Nghị quyết của HĐND được quy định tại Chương VIII, gồm 16 điều (từ Điều 111 đến Điều 126) của Luật.

Về quy trình, nhìn chung không có thay đổi nhiều, gồm 4 bước cơ bản sau:

Bước 1. Lập đề nghị và thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết HĐND tỉnh do UBND tỉnh là cơ quan đề nghị

1. UBND tỉnh tự mình hoặc theo đề xuất của các sở, ban, ngành trực thuộc đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND.

2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

a) Đối với Nghị quyết quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật) thì hồ sơ thực hiện theo khoản 2 Điều 117 của Luật gồm có:

- Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết;

- Bản thuyết minh về căn cứ ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; nội dung chính của nghị quyết; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

b) Riêng đối với việc xây dựng nghị quyết thuộc các trường hợp tại Khoản 2, 3, 4 Điều 27 của Luật quy định về: Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì cơ quan lập đề nghị phải thực hiện thêm các bước quy định tại các Điều 112 đến Điều 116 của Luật. Cụ thể:

- Cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 112 của Luật như tổng kết hoặc đánh giá các văn bản QPPL liên quan; tổ chức nghiên cứu thông tin tư liệu, điều ước quốc tế liên quan; xây dựng nội dung của chính sách, đánh giá tác động của chính sách; chuẩn bị hồ sơ đề nghị, lấy ý kiến về hồ sơ đề nghị, …

- Việc lấy ý kiến được thực hiện theo Điều 113 của Luật. Cụ thể: Đăng tải toàn bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để nhân dân tham gia ý kiến, đồng thời lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, thời gian để các đơn vị góp ý không ít hơn 10 ngày, …

- Ngoài ra, căn cứ Điều 10 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải:

+ Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của đến cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan, cơ quan, tổ chức khác có liên quan để lấy ý kiến;

+ Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh;

+ Hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến;

+ Trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;

+ Nghiên cứu ý kiến góp ý để hoàn thiện đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến phải được đăng tải cùng với các tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị.

Sau khi kết thúc thời gian lấy ý kiến, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết tổng hợp và tiếp thu ý kiến; gửi Sở Tư pháp thẩm định (thời gian thẩm định là 15 ngày); Cơ quan lập đề nghị là UBND tỉnh giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định hoàn thiện hồ sơ.

Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 117 của Luật gồm:

+ Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết; mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; mục tiêu, nội dung chính sách trong dự thảo nghị quyết và các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

+ Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do lựa chọn; xác định vấn đề giới và tác động giới của chính sách.

+ Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách.

+ Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; bản chụp ý kiến góp ý.

+ Đề cương dự thảo nghị quyết.

+ Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp.

+ Quyết định thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 116 của Luật này.

+ Tài liệu khác (nếu có).

- UBND cấp tỉnh xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết (UBND tỉnh tổ chức phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng nghị quyết)

- Đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh gửi đến thường trực HĐND tỉnh để xem xét, quyết định. Nếu chấp thuận thì phân công cơ quan tổ chức trình (UBND tỉnh) trình dự thảo Nghị quyết và quyết định thời hạn trình HĐND tỉnh dự thảo nghị quyết; UBND tỉnh sẽ  phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.

Bước 2. Soạn thảo và lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết (Điều 120 của Luật)

Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức xây dựng dự thảo phải chủ động phối hợp để đăng tải các tài liệu về dự thảo lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh ít nhất là 30 để lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức và những cơ quan, tổ chức; cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.

Bước 3. Thẩm định, trình UBND tỉnh quyết định trình dự thảo Nghị quyết, thẩm tra dự thảo nghị quyết

1. Thẩm định

Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật  gửi Sở Tư pháp thẩm định chậm nhất là 20 ngày trước ngày UBND tỉnh họp quyết định việc trình dự thảo Nghị quyết lên HĐND tỉnh.

Sở Tư pháp tiến hành thẩm định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định và gửi báo cáo cho cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình UBND tỉnh.

2. Trình UBND tỉnh quyết định trình dự thảo nghị quyết

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ dự thảo theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật đến UBND tỉnh để chuyển đến các thành viên của UBND tỉnh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày UBND tỉnh họp.

Tại phiên họp, UBND tỉnh có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số quyết định việc trình dự thảo nghị quyết ra HĐND tỉnh.

2. Thẩm tra

Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, UBND tỉnh trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết (thành phần hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 124 của Luật) đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra để thẩm tra. Ban có trách nhiệm thẩm tra phải gửi báo cáo thẩm tra đến Thường trực HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của HĐND.

Bước 4. Thông qua dự thảo Nghị quyết HĐND tỉnh

Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi đến đại biểu HĐND tỉnh chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của HĐND (thành phần hồ sơ gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật).

Tại kỳ họp của HĐND tỉnh tiến hành việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự quy định tại Điều 126 của Luật.

              vbqpplvban.jpg

II. Quyết định của UBND tỉnh

Quy trình, hồ sơ xây dựng ban hành quyết định của UBND tỉnh được quy định tại Chương IX gồm 6 điều (từ Điều 127 tới Điều 132) của Luật, gồm 4 bước cơ bản sau:

Bước 1. Lập đề nghị xây dựng Quyết định

Quy định cụ thể cơ quan, cá nhân sau có quyền và trách nhiệm đề nghị xây dựng Quyết định của UBND tỉnh: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và Chủ tịch UBND cấp huyện.

Văn phòng UBND tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh để quyết định và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

Bước 2. Soạn thảo và lấy ý kiến dự thảo              

Cơ quan đề nghị cũng là cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 128 của Luật.

Lấy ý kiến dự thảo thực hiện theo quy định tại Điều 129 viện dẫn áp dụng theo Điều 120 của Luật và tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo.

Bước 3. Thẩm định

Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật gửi Sở Tư pháp. Sở Tư pháp tiến hành thẩm định trong 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định. Báo cáo thẩm định gửi cho cơ quan chủ trì soạn thảo.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự thảo (Hồ sơ dự thảo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật) trước khi trình UBND tỉnh quyết định (đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình).

Bước 4. Trình, thông qua dự thảo và ký ban hành

Cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo đến UBND tỉnh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày UBND họp để chuyển đến các thành viên UBND tỉnh.

Tại phiên họp của UBND tỉnh thì việc thông qua, ký ban hành thực hiện theo Điều 132 của Luật.

 

III. Về xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn

Điều 146 Luật năm 2015 quy định các trường hợp được xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự thủ tục rút gọn, gồm 05 trường hợp sau: (1) Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; (2) Trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; (3) Trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội; (4) Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định; (5) Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

Quy định cụ thể, rõ ràng hơn trình tự, thủ tục xây dựng, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn (Điều 148, Điều 149 Luật năm 2015). Ví dụ: nếu tổ chức lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không quá hai mươi ngày; việc thẩm định, thẩm tra phải được tiến hành trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản; quy trình xem xét, thông qua được thực hiện theo trình tự tương ứng với trình tự xem xét, thông qua văn bản đó.

            Trên đây là quy trình xây dựng văn bản QPPL của HĐND tỉnh, UBND tỉnh theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, hy vọng sẽ cung cấp cho những cán bộ, công chức tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản QPPL có một cái nhìn khái quát về quy trình cũng như điểm mới của quy trình xây dựng văn bản QPPL của chính quyền địa phương cấp tỉnh./.

 

                                                          

9/24/2018 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinVăn phòngQuy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện /HoatDongAnh/2018-09/vbqpplvban_Key_27092018082651.jpg
9/24/2018 3:00 PMYesĐã ban hành
Những điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020Những điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020

Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022. Luật này có nhiều điểm mới đáng chú ý. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung có 9 điểm mới như sau:

1. Tăng mức phạt tiền tối đa của nhiều lĩnh vực

Tại Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 đã tăng mức phạt của một số lĩnh vực, gồm:

- Giao thông đường bộ; phòng, chống tệ nạn xã hội tăng từ 40 triệu lên 75 triệu đồng;

- Cơ yếu, giáo dục; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia từ 50 triệu lên 75 triệu đồng;

- Điện lực: từ 50 triệu lên 100 triệu đồng;

- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: từ 100 triệu lên 200 triệu đồng;

- Báo chí: từ 100 triệu lên 250 triệu đồng;

- Kinh doanh bất động sản từ 150 triệu lên 500 triệu đồng.

2. Bổ sung quy định mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực: Các lĩnh vực này gồm:

- Tín ngưỡng; đối ngoại: 30 triệu đồng;

- Cứu nạn, cứu hộ: 50 triệu đồng;

- In; an toàn thông tin mạng: 100 triệu đồng;

- Sở hữu trí tuệ: 250 triệu đồng...

3. Bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt

Bổ sung thẩm quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Trưởng Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động, Thủy đoàn trưởng, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Đội trưởng Đội đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ đội Biên phòng…

4. Tăng thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Thời hạn ra quyết định xử phạt theo Luật năm 2012 bao gồm cả thứ 7, chủ nhất, ngày nghỉ lễ, tết nên thời gian rất ngắn, gây khó khăn cho người xử phạt nhất là lập biên bản vào ngày cuối tuần, nghỉ lễ, tết.

Vì thế, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 đã sửa đổi theo hướng từ tính ngày sang ngày làm việc và tăng thời hạn xử phạt đối với trường hợp phải chuyển hồ sơ, cụ thể:

- Đối với vụ việc thông thường, thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;

- Đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản;

Đối với vụ việc thuộc trường hợp phải giải trình hoặc xác định giá trị tang vật… mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản.

5. Thay đổi thời hiệu xử phạt một số lĩnh vực

Trước đây, chỉ  hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế. Tuy nhiên, theo Luật mới, tất cả vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

6. Bổ sung trường hợp phải tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Theo đó, việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

- Để thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

- Để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành chính ở khu vực biên giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.

Đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

7. Nơi lập biên bản vi phạm hành chính

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 đã quy định cụ thể địa điểm lập biên bản vi phạm hành chính là phải nơi xảy ra vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Trước đây, Luật năm 2012 không quy định lập biên bản ở đâu, nhưng tại Nghị định 97/2017/NĐ-CP hướng dẫn cách ghi biên bản là ở nơi xảy ra vi phạm hoặc trụ sở làm việc.

Về nội dung biên bản: Luật 2020 bổ sung quy định biên bản phải mô tả vụ việc, hành vi vi phạm...

Chuyển biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp không thuộc thẩm quyền của người lập biên bản: Luật đã quy định cụ thể trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, người lập biên bản phải chuyển biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt (trước đây chỉ quy định chuyển ngay, không ghi rõ thời gian là bao lâu).

Bổ sung quy định về sửa chữa sai sót biên bản vi phạm hành chính: Luật 2020 bổ sung quy định: Trường hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung thì tiến hành xác minh tình tiết vi phạm.
8. Trường hợp hoãn thi hành quyết định phạt tiền

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định chỉ cá nhân bị phạt tiền từ 03 triệu đồng trở lên mới được hoãn, tổ chức không được hoãn thi hành quyết định phạt tiền. Tuy nhiên, Luật mới đã đã sửa đổi, bổ sung thêm tổ chức được hoãn tiền phạt như sau:

- Cá nhân bị phạt tiền từ 02 triệu đồng trở lên; tổ chức bị phạt tiền từ 100 triệu đồng trở lên;

- Bổ sung trường hợp cá nhân mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện trở lên.

- Đối với tổ chức đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp  hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

9. Bổ sung trường hợp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Luật sửa đổi 2020 đã bổ sung trường hợp cưỡng chế khi cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả./.

Thanh tra Sở


8/30/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThanh TraNhững điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2021 9:00 AMNoĐã ban hành
Thông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại ĐaklakThông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại Đaklak

1. Tài sản của Công an tỉnh Tây Ninh

- Đấu giá kết quả đầu tư và chuyển nhượng quyền trồng, chăm sóc, khai thác cây cao su, cây keo, cây tếch trên diện tích 200 ha đất tại xã EaBung, huyện EaSup, tỉnh Đăklăk. Thời gian đầu tư quyền khai thác trồng và chăm sóc cây đến ngày 23/9/2061.

- Giá khởi điểm: 16.062.300.000 đồng.

- Tiền đặt trước: 2.400.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2. Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

3. Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND và Giấy phép kinh doanh, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản.

4. Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 20/12/2017 (thứ tư).

5. Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 22/12/2017 (thứ sáu).

6. Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

7. Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có tài sản.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký tham gia đấu giá xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

12/1/2017 4:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại Đaklak/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/1/2017 4:00 PMNoĐã ban hành
Tình người nơi pháp đìnhTình người nơi pháp đình

Gia đình là nơi hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ em để mai sau thành những công dân sống có ích cho xã hội, là nơi rèn giũa để các em phát triển lành mạnh theo năm tháng. Nhưng hiện nay, vấn đề ly hôn, ly thân, bỏ bê con cái đang diển ra ngày càng nhiều, đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc gia tăng tội phạm vị thành niên, là ghánh nặng cho cộng đồng và kéo theo những hệ lụy liên quan đến tệ nạn xã hội gia tăng đáng báo động.

Như vụ án "Trộm cắp tài sản" được Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vào sáng ngày 14/5/2020 cũng xuất phát từ việc gia đình, cha mẹ thiếu quan tâm dẫn đến con mình sinh ra lâm vào hoàn cảnh trộm cắp. Pháp luật tuy có tính chất nghiêm khắc, giáo dục tội phạm nhưng kết thúc bằng bản án thể hiện tính nhân văn sâu sắc tại chốn pháp đình.

Theo cáo trạng của VKSND huyện Gò Dầu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Hùng vào khoảng 22 giờ, ngày 20/9/2019, tại khu vực thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn Cường do thiếu nợ của Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng, không có tiền trả đã nảy sinh ý định lấy trộm 01 cây bông trang dạng bonsai trị giá 11.300.000 đồng của anh Nguyễn Nguyên Bảo Thắng.

Khi được Hội đồng xét xử thẩm tra về lý lịch, bị cáo Nguyễn Văn Cường, sinh năm 2003 khai báo về hoàn cảnh gia đình, từ lúc sinh ra cho đến tận ngày hôm nay bị cáo không hề biết gì về mẹ ruột, bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ không có vòng tay che chở, lơi ấm từ mẹ. Sống cùng với cha, mưu sinh bằng nhiều nghề làm mướn, lang thang rày đây mai đó, không có có nơi ở cố định.

Cha bị cáo có lúc cũng chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ. Đến năm bị cáo được khoảng 15 tuổi thì cha bị cáo tiếp tục sống chung với một người phụ nữ, mẹ kế quá khắt khe, thường xuyên đánh đập, hành hạ, không thể chung sống được nên bị cáo bỏ nhà đi sống lang thang tại khu vực huyện Trảng Bàng bằng nghề chăn vịt, chăn bò cho người khác để kiếm cơm hàng ngày không được đến trường như bao đứa trẻ khác. Đến tối ngủ trong chòi vịt, chuồng bò, nghe mà quá xót xa cho thân phận của một đứa trẻ ở tuổi ăn học, tổi mới lớn.

Bị cáo Nguyễn Văn Cường là người bị buộc tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh phân công Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa trong phiên tòa xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

Dẫu biết rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên xét về nguyên nhân cũng như hoàn cảnh, điều kiện tác động đến hành vi phạm tội thì thấy rằng bị cáo đáng thương hơn đáng trách. Cũng vì sống lang thang, không có nơi ở cố định, thiếu thốn về vật chất, em Cường có mượn của anh Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng để mua thức ăn. Sau đó, em Cường mới nảy sinh ý định đi trộm cây bông trang để trả nợ 200.000 đồng cho anh Hùng. Nên sau đó, em đã đi đến nhà của anh Thắng trộm cắp cây bông trang rồi đem đến trả cho anh Hùng để trừ nợ, có 200.000 đồng nhưng đánh đổi lại một hình phạt tù thật sự không đáng.

Trong thời kỳ Nhà nước ta đang phổ cập giáo dục cho công dân thì với độ tuổi của bị cáo Cường tính đến ngày xét xử đã hơn 17 như thế tối thiểu cũng có thể đọc và viết được tên của mình nhưng bị cáo Cường không hề biết một mặt chữ nào, không biết đọc, không biết viết, đó là một sự thiệt thòi rất lớn đối với bị cáo, thể hiện sự thiếu quan tâm của cha mẹ, trách nhiệm của gia đình, của xã hội.

Trước khi mở phiên tòa, cha ruột của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, từ chối hẳn trách nhiệm của bậc làm cha đối với chính núm ruột của mình, từ chối hẳn đứa con mà mình phải có nghĩa vụ cưu mang. Những người trong phòng xử án đều có cái nhìn cảm thương cho số phận của em, không biết cuộc đời em sau này sẽ như thế nào. Nhìn sâu trong ánh mắt của em làm cho mỗi người đều cảm thấy nhói lòng, em trả lời sống những ngày trong Nhà Tạm giữ hình như có cái ăn, cái mặc hơn là bên ngoài, có người trò chuyện cùng, có cán bộ quản giáo chăm sóc mà từ trước giờ em chưa được hưởng cảm giác của tình yêu thương.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý đã trình bày trước Hội đồng xét xử, thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã áp dụng  nhưng cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh đáng thương của bị cáo như đã phân tích trên đây quyết định cho bị cáo một mức án phù hợp.

Hội đồng xét xử cân nhắc hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình, nhân thân, cân nhắc lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý quyết định cho bị cáo Cường hưởng mức án tù bằng thời hạn tạm giam, tạm giữ là 04 tháng 09 ngày, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Tôi nhìn thấy ánh mắt của em sáng lên niềm vui tột cùng, hạnh phúc đong đầy nhưng ẩn chứa một nỗi lo sau này đối với cuộc sống mưu sinh.

Phiên tòa kết thúc với bản án sâu đậm tình người vừa có sức thuyết phục sâu sắc những người tham dự.

                                                              Ngọc Linh

5/21/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTình người nơi pháp đình/HoatDongAnh/2020-05/21_Key_21052020082816.5_Key_21052020082816.2020_Key_21052020082816.png
5/21/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnhTây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh

​Để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại và Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 29/7/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 2004/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định "Thừa phát lại" trên địa bàn tỉnh.

Kế hoạch đã xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, cơ chế phối hợp, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai thi hành chế định Thừa phát lại, bảo đảm thống nhất và hiệu quả; đồng thời nâng cao hiểu biết và tiếp cận của người dân đối với dịch vụ Thừa phát lại.

        Theo đó, nội dung trọng tâm của Kế hoạch là tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chế định Thừa phát lại và nội dung Nghị quyết số 107/2015/QH13, Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 và các văn bản liên quan bằng các hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của đơn vị, địa phương và đối tượng; bổ sung chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về thừa phát lại; tập huấn chuyên sâu về chế định Thừa phát lại; xây dựng Đề án triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh; xây dựng Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp với Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh  trong việc thực hiện chế định Thừa phát lại; tổ chức kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời xử lý, chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; đồng thời tiến tới tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh dự kiến vào năm 2017; giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại tại tỉnhTây Ninh; trên cơ sở phê duyệt của Bộ Tư pháp, tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thi hành trên địa bàn tỉnh.

 Sở Tư pháp là đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các sở, ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai thực hiện Kế hoạch này tại địa phương

                        Kim Huệ

8/25/2016 11:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinBTTPTây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/25/2016 11:00 AMYesĐã ban hành
Yêu nghề-nghề yêuYêu nghề-nghề yêu

Tới nay, tôi từng hành nghề luật sư qua hai thể chế, ngót một phần ba thế kỷ thăng trầm. Đối với luật sư, tiếp cận chứng cứ vụ án là rất quan trọng, là căn cứ bênh vực khách hàng. Thường thì thân chủ muốn rằng yêu cầu mà họ đề ra được đáp ứng. Luật sư chân chính không thể chiều theo tất cả đòi hỏi của thân chủ mà cần tôn trọng sự thật khách quan phù hợp quy định pháp luật.

Luật sư chịu thử thách, gian truân. Có dư luận cho rằng luật sư phải làm dâu trăm họ (đáp ứng yêu cầu của thân chủ, các cơ quan tiến hành tố tụng, công luận…). Nhiệm vụ của luật sư là bảo vệ công lý. Trải nghiệm thách thức nhưng "lửa thử vàng, gian nan thử sức".

Bản thân tôi cũng như các luật sư đồng nghiệp mong đợi luật pháp nước nhà cần thay đổi, điều chỉnh phù hợp với thực tế cuộc sống. Bên cạnh đó, luật sư cần cập nhật kiến thức pháp luật, hội nhập với khu vực và thế giới.

Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, đã mở đường để luật sư thực hiện hiệu quả vai trò "phụ tá công lý".

Trong hoạt động nghề nghiệp, tôi không bao giờ làm ngơ trước sự "áp chế pháp lý" của cán bộ cơ quan tiến hành tố tụng. Tôi là luật sư bào chữa cho bị cáo T.T.N và bị cáo N.N.C bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử về hành vi "lừa đảo…", "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố gọi điện thoại chúc mừng tôi đã bào chữa thành công cho bị cáo N và bị cáo C. Phiên tòa diễn ra chừng 45 phút, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án hội ý. Tôi chủ động đến gặp, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận các bị hại tự nguyện miễn, giảm số tiền mà các bị cáo chiếm dụng của các bị hại. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của luật sư, hướng dẫn thư ký lập biên bản nội dung sự việc để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo…

Ở vụ án khác, với tư cách luật sư bào chữa cho thân chủ, tôi kịp thời phản ứng khi những người tiến hành tố tụng tại phiên xử thiếu khách quan trong quá trình hoạt động tố tụng. Tại phiên tòa của tòa án quận, chủ tọa muốn chứng tỏ quyền lực, gây sức ép đối với luật sư khi luật sư tranh luận với đại diện viện kiểm sát bằng cách: sẽ yêu cầu Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam kỷ luật tôi vì không chấp hành việc chủ tọa muốn luật sư không đối đáp, tranh luận với kiểm sát viên nữa. Tôi phản đối! Thẩm phán chủ tọa lên tiếng tại phiên tòa: Sẽ đề nghị Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam kỷ luật luật sư. Tôi lập tức "trả miếng": Luật sư sẽ đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kỷ luật chủ tọa phiên tòa này. Có lẽ nhận ra việc hành xử không thích hợp, Thẩm phán chủ tọa đã "dĩ hòa vi quý" khi gặp tôi rút lại lời vừa "dọa"…

Luật sư tôn trọng hội đồng xét xử, nhưng cương quyết không khoan nhượng.

Tại một phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao (nay là tòa án nhân dân cấp cao) tại TP. Hồ Chí Minh, thẩm phán "cánh gà" phát biểu: Yêu cầu luật sư nêu ngắn gọn. Tôi lên tiếng: Theo quy định của pháp luật, chủ tọa là người điều khiển phiên tòa, thẩm phán "cánh gà" không được điều khiển phiên tòa, cản trở hoạt động của luật sư. Tôi đề nghị chủ tọa chấn chỉnh thẩm phán "cánh gà". Chủ tọa lưu ý thẩm phán "cánh gà" không được gây khó khăn đối với luật sư. Phóng viên báo chí và người tham dự phiên tòa bày tỏ sự đồng tình với luật sư.

Là luật sư, tôi mong các đồng nghiệp, nhất là các luật sư mới vào nghề cần sự bình tĩnh, ôn hòa nhưng phải có lập trường khi làm nhiệm vụ. Trong mọi hoàn cảnh, luật sư phải bản lĩnh, "uy vũ bất năng khuất"!

Luật sư chân chính luôn thể hiện sự chính trực, giữ gìn sự liêm khiết trí thức, toàn tâm toàn ý phục vụ công lý.

Nghề "thầy cãi" là nghề cao quý. Tôi tin tưởng các đồng nghiệp luôn được xã hội quý trọng.

Tôi thiết tha mong muốn giới luật sư vượt qua thử thách, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc.

                                                                  Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam


8/10/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinPhòng XD&KTVBQPPLYêu nghề-nghề yêu/HoatDongAnh/2020-08/luatsu10_Key_10082020090010.8_Key_10082020090010.2020_Key_10082020090010.jpg
8/10/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nayVai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay

Theo khoản 1 - Điều 2 Luật công chứng năm 2014: "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng".

          Công chứng là hoạt động dịch vụ công đặc biệt phục vụ và tạo ra những bảo đảm, an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp dân sự góp phần bảo đảm trật tự kinh tế - xã hội. Hiện nay, hoạt động công chứng của nước ta phát triển nhanh chóng, cho thấy sự phát triển của kinh tế xã hội, khi nhu cầu giao kết dân sự của người dân càng tăng cao.  Luật Công chứng năm 2014 cũng có quy định rõ về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: "Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác"

          Theo quy định của pháp luật hiện hành: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai". Do vậy, việc có một trình tự ghi nhận tính hợp pháp (công chứng) các giao dịch liên quan đến đất đai (ở đây là quyền sử dụng đất) nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai của cơ quan nhà nước là việc làm cần thiết. Thực tế cho thấy, trong một thời gian rất dài, công tác quản lý đất đai của chúng ta vẫn chưa tốt, còn có nhiều giao dịch về quyền sử dụng đất phát sinh trong Nhân dân mà không được công chứng, chứng thực. Hiện tượng mua đi bán lại bất động sản bằng giấy tay khá phổ biến, đối tượng của giao dịch cũng đa dạng, từ đất ở, đất vườn đến đất nông nghiệp, lâm nghiệp đều có thể được chuyển nhượng. Điều đó làm cho Nhà nước thất thu thuế, các cơ quan nhà nước gặp nhiều khó khăn trong quản lý, Tòa án khó khăn khi giải quyết tranh chấp. Vì vậy, công chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch về quyền sử dụng đất, thể hiện ở một số điểm sau:

          + Công chứng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp của nội dung các giao dịch. Trên thực tế thì cũng còn có một số ít người dân có sự hiểu biết rõ ràng các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất. Việc công chứng sẽ giúp cho các bên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong giao dịch về quyền sử dụng đất qua việc tư vấn, giải thích của các tổ chức hành nghề công chứng, cụ thể là của công chứng viên.

          + Việc công chứng còn góp phần hạn chế các giao dịch không có thật, góp phần hạn chế các yếu tố lừa đảo, lừa dối trong các giao dịch về quyền sử dụng đất, nhất là trong các trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập di chúc, giải quyết về thừa kế.... Ví dụ: với sự tham gia của công chứng, các vấn đề như lừa dối trong khi lập di chúc: cưỡng ép người có quyền sử dụng đất lập di chúc giao giao quyền sử dụng đất cho một người nào đó.

          + Việc công chứng sẽ nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ (theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng giao dịch được công chứng không phải chứng minh) khi có tranh chấp. Rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp, các bên tham gia giao dịch phải đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án sẽ dễ xem xét và chấp nhận hơn nếu các giao dịch đó đã được công chứng.

          Trên đây là một số vai trò quan trọng của hoạt động công chứng trong việc giao dịch về đất đai trong xã hội hiện nay./.

 

Yến Linh - Công chứng số 1 đưa tin


11/26/2020 5:00 PMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC1Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay/HoatDongAnh/2020-11/cc1_Key_26112020161338.26_Key_26112020161338.11_Key_26112020161338.2020_Key_26112020161338.jpg
11/26/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây NinhThông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây Ninh

TRUNG TÂM DỊCH VỤ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH TÂY NINH

THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ


Tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước gồm 01 máy đào bánh xích và 01 chiếc xe mô tô bán phụ tùng của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 231.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 35.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000 đồng.

- Đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản.

Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 07/3/2018 (thứ tư).

Tổ chức đấu giá: 09 giờ 00 phút, ngày 09/3/2018 (thứ sáu).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Xem tài sản trực tiếp 02 ngày: 05&06/3/2018, tại nơi có tài sản đấu giá.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


2/27/2018 2:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây Ninh/HoatDongAnh/2018-05/tbdg_Key_08052018085115.jpg
2/27/2018 2:00 PMNoĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019

Chiều ngày 05/3/2019, tại Hội trường Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh, Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp tỉnh Tây Ninh đã tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua năm 2018 và  ký kết giao ước thi đua Khối thi đua năm 2019. Đến dự và chỉ đạo Hội nghị, về phía Hội đồng thi đua, khen thưởng tỉnh có bà Phan Thị Điệp, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng thi đua, khen thưởng tỉnh; Lãnh đạo 07 Sở ngành Văn phòng Đoàn Đại biểu quốc hội - HĐND - UBND tỉnh; Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Ngoại vụ, Thanh tra tỉnh. Về phía Sở Tư pháp, có ông Võ Xuân Biên - Phó Giám đốc phụ trách Sở tham dự.


12.3.2019.vp.jpg

Hội nghị tổng kết phong trào thi đua năm 2018 và  ký kết giao ước thi đua

Khối thi đua năm 2019

Hội nghị đã thông qua báo cáo tổng kết phong trào thi đua, khen thưởng năm 2018 và phương phướng, nhiệm vụ năm 2019 của Khối thi đua; đồng thời thông qua các báo cáo tham luận, giới thiệu điển hình tiên tiến năm 2018 của Sở Tài chính, Thanh tra tỉnh…Tại Hội nghị, Sở Nội vụ - Khối trưởng khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp tỉnh Tây Ninh năm 2018 thông báo kết thúc nhiệm vụ và trao cờ Luân lưu Khối trưởng Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp năm 2019 cho Sở Tư pháp và Khối phó là Sở Ngoại vụ.


12.3.2019.vp.1.jpg

Ông Võ Xuân Biên – Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp nhận cờ luân lưu khối trưởng năm 2019 Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thi đua lập thành tích xuất sắc trong năm 2019, với vai trò Khối trưởng Khối thi đua, ông Võ Xuân Biên- Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp đã phát động phong trào thi đua trong toàn khối, đồng thời tổ chức ký kết thi đua giữa các thành viên để Khối thi đua tiếp tục thúc đẩy phong trào thi đua của Khối sôi động hơn, hiệu quả hơn.

12.3.2019.vp.2.jpg

07 Lãnh đạo các sở, ngành thành viên Khối Thi đua ký kết giao ước thi đua năm 2019

(Đắc Hiển)

3/12/2019 12:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019/HoatDongAnh/2019-03/12_Key_12032019111439.3_Key_12032019111439.2019_Key_12032019111439.vp_Key_12032019111439.1_Key_12032019111439.jpg
3/12/2019 12:00 PMYesĐã ban hành
Quy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa ánQuy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa án


Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/ 2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, trong đó quy định về hoạt động hòa giải và đối thoại tại Tòa án.

Theo đó, hòa giải, đối thoại được thực hiện trước khi tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Cụ thể, hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này. Đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.

Như vậy, đối với vụ việc dân sự thì tiến hành theo cách thức hòa giải; đối với vụ án hành chính thì tiến hành theo cách thức đối thoại. Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án; khuyến khích những người đủ điều kiện theo quy định của Luật này làm Hòa giải viên và tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án.  Đây là những nội dung mới được ghi nhận tại luật này mà trước đó chưa có, là chế định mới, có tính độc lập, không áp dụng đối với hoạt động hòa giải, đối thoại đã được luật khác quy định.

Các bên tham gia hòa giải, đối thoại phải đảm bảo các nguyên tắc: tự nguyện hòa giải, đối thoại; tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ; bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định pháp luật; phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc.

Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật. Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này họ có thể tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình. Người tham gia hòa giải, đối thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng được coi là người phiên dịch. Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.

Ngoài ra, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng quy định những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại bao gồm: Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng; một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại; một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính; trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được công nhận khi có đủ các điều kiện: Các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các bên là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất; nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; trường hợp các bên thuận tình ly hôn thì thỏa thuận của các bên phải có đầy đủ nội dung về việc ly hôn, việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải, đối thoại thì thỏa thuận, thống nhất chỉ được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ. Trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được một phần tranh chấp dân sự, một phần khiếu kiện hành chính thì chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận, thống nhất không liên quan đến các phần khác của tranh chấp, khiếu kiện đó.

Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo.

Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án thì quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có thể bị xem xét lại theo đề nghị của các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà họ không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án./.

                                                                          Ngọc Linh

 


4/28/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinNgọc LinhQuy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa án/HoatDongAnh/2021-04/1_Key_28042021090706.2021_Key_28042021090706.28_Key_28042021090706.4_Key_28042021090706.TGPLNNTTN_Key_28042021090706.png
4/28/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh

Ngày 01/7/2021 Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Theo đó, mức thu, các trường hợp miễn phí và chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí được quy định cụ thể như sau:

Mức thu phí

1. Phí đăng ký biện pháp bảo đảm

a) Đăng ký biện pháp bảo đảm: 80.000 đồng/trường hợp;

b) Đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm: 30.000 đồng/trường hợp;

c) Đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký: 60.000 đồng/trường hợp;

d) Xóa đăng ký biện pháp bảo đảm: 20.000 đồng/trường hợp,

đ) Cấp bản sao văn bản chứng nhận nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm: 25.000 đồng/trường hợp.

2. Phí cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm: 30.000 đồng/trường hợp.

Những trường hợp miễn phí

1. Các cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng thuộc một trong các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định tại Điều 4, Điều 9 Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và khoản 3, 4 Điều 1 Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

2. Yêu cầu sửa chữa sai sót về nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm do lỗi của người thực hiện dịch vụ đăng ký.

3. Thông báo việc kê biên tài sản thi hành án, yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo việc kê biên tài sản thi hành án, xóa thông báo việc kê biên của Chấp hành viên theo quy định của pháp luật thi hành án.

4. Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản kê biên.

5. Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động tố tụng.

Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí

Cơ quan thu phí được trích lại 80% tổng số tiền phí thu được để chi các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí;

Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Tây Ninh thông qua tại kỳ họp thứ nhất, khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/7/2021.

Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp


7/23/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinKim HuệTây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh /HoatDongAnh/2021-07/hue22_Key_23072021141406.1_Key_23072021141406.2021_Key_23072021141406.2_Key_23072021141406.jpg
7/23/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây NinhKênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh

Nhằm hỗ trợ công tác phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh, từ 07 giờ ngày 26/7/2021 (thứ Hai), Sở Thông tin và Truyền thông triển khai chính thức các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh như sau:

Kênh hỗ trợ người dân về dịch bệnh Covid-19

1. "Kênh tiếp nhận thông tin, tư vấn về tình hình sức khỏe". Gọi 0276.1022, bấm phím 1. Thông tin tiếp nhận:

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân trong các khu cách ly, phong toả.

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân khi cách ly y tế tại nhà, tự theo dõi sức khoẻ tại nhà.

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân khi có liên quan đến dịch tễ như F1, F2, nghi ngờ mắc Covid-19.

* Cách thức thực hiện:

- Bước 1: Người dân gọi vào số 0276 1022. Người dân nghe câu chào: Tổng đài 1022 tỉnh Tây Ninh kính chào. Ông/bà vui lòng bấm phím 0 để gặp điện thoại viên, bấm phím 1 để phản ánh về tình trạng sức khoẻ, bấm phím 2 để phản ánh về việc hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch covid-19.

- Bước 2: Người dân bấm phím 1 thì nghe câu thoại hướng dẫn nhập phím để chuyển đến trung tâm y tế cấp huyện tương ứng: Người dân nghe câu hướng dẫn: Kênh tiếp nhận phản ánh tình trạng sức khoẻ kính chào. Ông/bà tiếp tục bấm phím 1 nếu ở Bến Cầu, phím 2 nếu ở Gò Dầu, phím 3 nếu ở Dương Minh Châu; phím 4 nếu ở Châu Thành, phím 5 nếu ở Trảng bàng, phím 6 nếu ở Thành phố Tây Ninh, phím 7 nếu ở Hòa Thành, phím 8 nếu ở Tân Châu, phím 9 nếu ở Tân Biên, phím 0 để gặp Tổng đài viên. Hệ thống sẽ chuyển cuộc gọi của người dân đến các số điện thoại là lãnh đạo các Trung tâm y tế huyện, thị, thành phố tương ứng (danh sách số điện thoại mỗi đơn vị gồm 02 số sẽ luân phiên nhận cuộc gọi, kèm danh sách bên dưới)

2. "Kênh tiếp nhận và xử lý thông tin hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19". Gọi 0276.1022, bấm phím 2. Thông tin tiếp nhận

- Thông tin về bản thân, gia đình hoặc hàng xóm, những người xung quanh có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương cần được hỗ trợ nhu yếu phẩm.

- Thông tin về bản thân hoặc gia đình người dân thuộc đối tượng bị tác động, ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của Trung ương và Tây Ninh nhưng chưa nhận được hỗ trợ. - Thông tin về các trường hợp khác trong xã hội cần hỗ trợ (người già neo đơn, trẻ cơ nhỡ,…)

* Cách thức thực hiện:

- Bước 1: Người dân gọi vào số 0276 1022. Người dân nghe câu chào: Tổng đài 1022 tỉnh Tây Ninh kính chào. Ông/bà vui lòng bấm phím 0 để gặp điện thoại viên, bấm phím 1 để phản ánh về tình trạng sức khoẻ, bấm phím 2 để phản ánh về việc hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch covid-19.

- Bước 2: Người dân bấm phím 2 thì cuộc gọi chuyển đến số Tổng đài viên trực để tiếp nhận thông tin (trong giờ hành chính); Ngoài giờ hành chính thì cuộc gọi được ghi lại để điện thoại viên xem lại và chuyển xử lý. Thông tin nhận được sẽ được Trung tâm GSĐH tập trung của tỉnh chuyển đến UBND các huyện, thị xã, thành phố, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội xử lý, hỗ trợ người dân trong thời gian nhanh nhất.


DANH SÁCH SỐ ĐIỆN THOẠI ĐƯỜNG DÂY NÓNG TIẾP NHẬN PHẢN ÁNH PHÒNG CHỐNG DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

1022.29.7.2021.nia.1.jpg


1022.29.7.2021.nia.2.jpg


1022.29.7.2021.nia.3.jpg

1022.29.7.2021.nia.4.jpg

1022.29.7.2021.nia.5.jpg

1022.29.7.2021.nia.6.jpg

7/29/2021 5:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinNiaKênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/29/2021 5:00 PMYesĐã ban hành
Hướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây NinhHướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh

MAU QR dang ky diem kiem dich SO TU PHAP 80x150cm.png

Các cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp khi đến liên hệ công tác tại Sở Tư pháp Tây Ninh vui lòng thực hiện chức năng quét mã "QRCode" thực hiện việc khai báo.

Bước 1: Cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp cần thực hiện việc cài đặt ứng dụng "Bluezone" trên CH Play/AppStore vào điện thoại thông minh.

Bước 2: Khai báo y tế trước khi quét mã "QRCode" để xác nhận điểm đến và đi tại nơi đăng ký điểm kiểm dịch.

Bước 3: Thực hiện quét mã "QRCode" trên ứng dụng "Bluezone" thực hiện như sau:

- Trên màn hình thiết bị di động đã cài ứng dụng "Bluezone" chọn biểu tượng có tên Bluezone

bluzone.jpg

  • Khi ứng dụng Bluezone đã khởi động tiến hành nhấn nút tiện ích 
  • bluzone1.jpg


Cuối cùng nhấn vào biểu tượng "Khai báo y tế" và gửi thông tin theo yêu cầu, sau đó chọn "Quét mã check-in" để tiến hành quét mã QR Code hướng camera điện thoại vào Mã QR CODE được dán tại các đơn vị.


6/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinBích HiềnHướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2021-06/MAU QR dang ky diem kiem dich SO TU PHAP 80x150cm_Key_03062021142711.png
6/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tếHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế

Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp hướng tới đạt mục tiêu năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp, năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp và năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị TW 5 Khóa XII, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 35, Nghị quyết số 19 năm 2016 - 2017 - 2018, Nghị quyết số 02 năm 2019 về cải thiện môi trường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó đưa ra các giải pháp đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều địa phương đã duy trì và nâng cao chất lượng cơ chế đối thoại chính sách để tháo gỡ khó khăn về chính sách liên quan đến lao động, đất đai, vốn, thuế, hải quan...

Tuy nhiên, năng lực nội tại của các DNNVV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: đa số các DNNVV có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động sản xuất còn nhỏ lẻ manh mún; thiếu vắng sự liên kết, đặc biệt liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa và lớn; năng xuất trong khu vực DNNVV thấp, năng lực cạnh tranh, thích nghi với thị trường còn yếu; máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu...

Từ góc nhìn của tổ chức đại diện doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy, mặc dù cơ chế chính sách đã được ban hành nhiều, tương đối đầy đủ, nhưng chậm được triển khai đã làm mất đi tính cơ hội, lạc hậu so với tình hình thực tiễn, nên phải điều chỉnh bổ sung nhiều đã làm ảnh hưởng đến khu vực doanh nghiệp dân doanh. Bên cạnh đó, một số các cấp chính quyền địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra chính sách, nguồn lực cụ thể để triển khai, mặc dù cơ chế đã có.

Để các quy định của Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thực sự được triển khai trên thực tế, đi vào cuộc sống, trong phạm vi bài viết, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Phải xác định hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là một hoạt động cơ bản, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp, các ngành. Hoạt động này xuất phát từ bối cảnh thực tế hiện nay, khi nhận thức pháp luật của khu vực kinh tế dân doanh còn nhiều hạn chế, chủ sở hữu, người quản lý trong doanh nghiệp chưa hình thành thói quen tuân thủ pháp luật, chế tài xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm minh, chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, thực thi pháp luật chưa đạt hiệu quả.

Thứ hai: Nhu cầu hỗ trợ pháp lý và tư vấn pháp luật của khu vực DNNVV rất nhiều, phong phú và đa dạng, điều này, xuất phát từ quyền tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp. Trong khi đó, nguồn lực Nhà nước lại có hạn, hỗ trợ pháp lý chỉ là một hoạt động trong tổng thể các hoạt động hỗ trợ DNNVV. Để tránh lãnh phí, tràn lan, nhưng không đem lại hiệu quả thiết thực, Nhà nước cần xác định rõ các nội dung, hoạt động nào Nhà nước hỗ trợ, nội dung, hoạt động nào doanh nghiệp phải thực hiện thuê dịch vụ pháp lý để phòng ngừa rủi ro theo quy luật của thị trường.

Thứ ba: Trong khi cơ cấu, tổ chức, cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong các cơ quan Nhà nước hiện nay chưa ổn định, sự quan tâm của các cấp chính quyền chưa đồng đều, Nghị định 55/2019/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP đã quy định về cơ chế thiết lập mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ cho DNNVV. Vì vậy, các bộ ngành, địa phương cần sớm triển khai cơ chế này, đây có thể được coi là một cơ chế hữu hiệu để triển khai các hoạt động hỗ trợ cho DNNVV một cách hiệu quả. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy, Nhà nước cần chủ động hướng dẫn, xây dựng tiêu chí, công nhận tư cách của mạng lưới, bố trí kinh phí để duy trì, khuyến khích bồi dưỡng, giám sát, kiểm tra mạng lưới tư vấn viên. Đây cũng được coi là cơ chế để đội ngũ luật sư, luật gia tham gia sâu rộng vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Thứ tư: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, những thành quả của kỹ thuật số vào trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV. Thực tế, những người quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp rất bận. Vì vậy, những cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo phương thức truyền thống cần có sự thay đổi mạnh mẽ, nắm sát đặc điểm tâm lý, đặc thù của doanh nghiệp, chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ năm: Cần có phân loại, phân nhóm các loại hình DNNVV để có các chuyên đề, chương trình hỗ trợ cho phù hợp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất, chế biến, chế tạo có nhu cầu hỗ trợ khác với doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thương mại dịch vụ.

Thứ sáu: Cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung, công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV nói riêng. Thực tế cho thấy, để thay đổi thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV, chúng ta phải nhìn tổng thể để có các giải pháp thay đổi trên các bình diện về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, ý thức phục vụ của tổ chức, cá nhân thừa hành công vụ, tính nghiêm minh bình đẳng của thi hành pháp luật./.

                                                                     Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam 


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103622.8_Key_25082020103622.2020_Key_25082020103622.2_Key_25082020103622.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Ngày 24/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Theo Nghị định này, các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm các chế độ sau:

- Bảo hiểm y tế;

- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;

- Hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết;

- Hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;

- Hỗ trợ thăm viếng mộ liệt sĩ;

- Hỗ trợ di chuyển hài cốt liệt sĩ;

- Hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ;

- Xác định danh tính hài cốt liệt sĩ;

- Các chế độ ưu đãi khác như: Trợ cấp mai táng; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; chi tiền ăn thêm ngày lễ, tết đối với thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên...

Nghị định số 75/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2021./.

                                                                                          Ngọc Giàu

8/4/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinNgọc Giàu  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng/HoatDongAnh/2021-08/4_Key_04082021094424.huongdantochucthuchien_Key_04082021094424.png
8/4/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Hướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèoHướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo

Ngày 16/7/2021, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022-2025. Trên cơ sở Quyết định này, ngày 18/7/2021, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH hướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo; xác định thu nhập của hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025 và mẫu biểu báo cáo.

Theo đó, phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định 24/2021/QĐ-TTg thực hiện như sau:

1. Khảo sát thu thập thông tin của hộ gia đình, tính điểm, tổng hợp điểm theo Phụ lục III và Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH để ước lượng thu nhập và xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo như sau:

- Về mức thu nhập bình quân đầu người (gọi là điểm A): ở khu vực nông thôn, 140 điểm tương đương với mức thu nhập bình quân đầu người 1.500.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị, 175 điểm tương đương với mức thu nhập bình quân đầu người 2.000.000 đồng/người/tháng.

- Về mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (gọi là điểm B): 10 điểm tương đương với 01 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

2. Phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo:

+ Hộ nghèo: hộ có điểm A ≤ 140 điểm và điểm B ≥ 30 điểm ở khu vực nông thôn hoặc có điểm A ≤ 175 điểm và điểm B ≥ 30 điểm ở khu vực thành thị;

+ Hộ cận nghèo: hộ có điểm A ≤ 140 điểm và điểm B < 30 điểm ở khu vực nông thôn hoặc có điểm A ≤ 175 điểm và điểm B < 30 điểm ở khu vực thành thị.

Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 01/9/2021./.

                                                                                          Ngọc Giàu

8/4/2021 10:00 AMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinNgọc GiàuHướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo/HoatDongAnh/2021-08/3_Key_04082021093859.huongdantochucthuchien_Key_04082021093859.png
8/4/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

Tài sản của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất: 11 nền chợ Cầu xã Long Thuận, thuộc tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Diện tích đưa ra đấu giá 11 nền: 1.001,24m2.

- Vị trí đất 11 nền: Có mặt tiền giáp đường nhựa rộng từ 6m đến 7,5 m (đường phân lô phía sau chợ), vĩa hè mỗi bên 3m. Tài sản trên đất: Không có.

- Hình thức sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.

- Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn (ONT). - Thời gian sử dụng đất: Lâu dài.

- Nguồn gốc đất: Đất bố trí nền tái định cư, nhưng không sử dụng hết được UBND tỉnh giao cho huyện tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Hiện UBND xã Long Thuận quản lý.

Tổng giá khởi điểm: 3.958.662.600đồng.

Stt

 

Ký hiệu

Nền đất

 

Tên thửa đất

 

Diện tích

(m2)

 

Giá khởi điểm  (đồng)

 

Tiền đặt trước

(đồng)

1Nền số 1Thửa đất số 126101,24396.354.60059,500,000
2Nền số 2Thửa đất số 13787,75343.541.25051,600,000
3Nền số 3Thửa đất số 13887,75343.541.25051,600,000
4Nền số 4Thửa đất số 13987,75343.541.25051,600,000
5Nền số 5Thửa đất số 14087,75343.541.25051,600,000
6Nền số 6Thửa đất số 14187,75343.541.25051,600,000
7Nền số 7Thửa đất số 14287,75343.541.25051,600,000
8Nền số 8Thửa đất số 14387,75343.541.25051,600,000
9Nền số 9Thửa đất số 14487,75343.541.25051,600,000
10Nền số 10Thửa đất số 15299,00387.585.00058,200,000
11Nền số 11Thửa đất số 15399,00426.393.00064,000,000

- Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000 đồng/nền đất.

 - Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu (có chứng thực).

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 06/9/2021 (thứ hai). Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh và Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Bến Cầu.

- Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo tại nơi có bất động sản. Tổ chức đấu giá từ: 09 giờ, ngày 09/9/2021 (thứ năm), tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bến Cầu.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

       


8/12/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-08/hinh dau gia 3_Key_12082021145211.jpg
8/12/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
1 - 30Next