Tin tức - Tin tức sự kiện
 
​Theo Điều 13 Nghị định số 03/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,  thì doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe cơ giới, người lái xe hoặc người bị thiệt hại;- Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của ...
 
​Ngày 23 tháng 3 năm 2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Cụ thể:Phạm vi điều chỉnh của Nghị định là quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục), bao gồm: quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy ...
 
Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Nhằm xem xét, đánh giá tình hình thi ...
 
​Ngày 01 tháng 3 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2021/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi.Theo đó Nghị định có quy định về:- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi là 01 năm, trừ trường ...
 
​Ngày 27 tháng 01 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025. Nghị định này quy định về các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 – 2025 và đối tượng áp dụng là hộ gia đình, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia công tác ...
 
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.  Ảnh minh họa Theo đó hình thức xử phạt và mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục được quy định như sau:1. Hình thức xử phạt chính, bao gồm:- Cảnh cáo; - Phạt tiền.2. Hình thức xử phạt bổ sung: - Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành ...
 
​Ngày 09 tháng 02 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2021/NĐ-CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Nghị định số 68/2019/NĐ-CP ngày 14 tháng 8 năm 2019 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.  Ảnh minh họaTheo đó Nghị định quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng các dự án sử dụng vốn ...
 
​Ngày 15 tháng 3 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.Nghị định này quy định về chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng; nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; trợ giúp xã hội khẩn cấp và chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.Theo đó nguyên tắc cơ bản về chính sách trợ giúp xã hội và ...
 
​          Ngày 26 tháng 02 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị quyết số  21/NQ-CP  về mua và sử dụng vắc xin phòng covid -19. Theo đó Nghị quyết quy định về đối tượng, địa bàn ưu tiên tiêm và miễn phí vắc xin như sau: Ảnh minh họa1. Đối tượng ưu tiên tiêm và miễn phí:a) Lực lượng tuyến đầu phòng, chống dịch, gồm:- Người làm ...
 
​Tại Kỳ họp thứ 10, ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính - Luật số 67/2020/QH14 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022). Theo đó, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực; thẩm ...
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Quy định về chế độ báo cáo trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Nghị định số 32/2020/NĐ-CP của Chính phủQuy định về chế độ báo cáo trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Nghị định số 32/2020/NĐ-CP của Chính phủ

Ngày 05 tháng 3 năm 2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-Cp ngày 23 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

xlvpch10.3.2020.1.jpg

Nghị định đã sửa đổi các điều, khoản của 04 Điều, bổ sung các điều, khoản của 03 điều, bổ sung thêm 02 Điều và bãi bỏ 02 khoản của 02 Điều của Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2012. Theo đó về chế độ báo cáo hàng năm trong được sửa đổi và quy định như sau:

- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước chậm nhất vào ngày 25 tháng 12 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 15 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 12 của kỳ báo cáo.

- Báo cáo Bộ Tư pháp về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chậm nhất vào ngày 10 tháng 12 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 30 tháng 11 của kỳ báo cáo.

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Bộ Tư pháp công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật chậm nhất vào ngày 10 tháng 12 của kỳ báo cáo. Thời gian chốt số liệu báo cáo tính từ ngày 01 tháng 12 của năm trước kỳ báo cáo đến ngày 30 tháng 11 của kỳ báo cáo.

- Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện việc báo cáo về công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp trên tực tiếp.

Nghị định hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 5 năm 2020./.

 

PHÒNG QLXLVPHC&TDTHPL


3/10/2020 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLQuy định về chế độ báo cáo trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật theo Nghị định số 32/2020/NĐ-CP của Chính phủ/HoatDongAnh/2020-03/xlvpch10_Key_19032020151406.3_Key_19032020151406.2020_Key_19032020151406.1_Key_19032020151406.jpg
3/10/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
Các hình thức xử lý kỷ luật các bộ, công chức, viên chức trong thi hành pháp luật về xử lý vi hạm hành chínhCác hình thức xử lý kỷ luật các bộ, công chức, viên chức trong thi hành pháp luật về xử lý vi hạm hành chính

Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật theo quy định tại các Điều 24, 25, 26, 27, 28 và 29 Nghị định số 19/2020/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

I. Khiển trách

1. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời, không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng theo quy định pháp luật;

b) Không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của cá nhân, tổ chức bị xử phạt; việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do cá nhân, tổ chức thực hiện;

c) Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức;

d) Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra;

đ) Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.

2. Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Tiết lộ thông tin, tài liệu về kết luận kiểm tra khi chưa có kết luận chính thức;

b) Thực hiện không đầy đủ, chính xác kết luận kiểm tra;

c) Không giải quyết hoặc giải quyết không kịp thời khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính.

II. Cảnh cáo

1. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật;

b) Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính;

c) Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

d) Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính;

đ) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra;

e) Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra;

g) Thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.

2. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vi phạm theo quy định pháp luật;

b) Áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính;

c) Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

d) Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính;

đ) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra;

e) Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra;

g) Không thực hiện kết luận kiểm tra.

3. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính;

b) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người làm nhiệm vụ kiểm tra;

c) Cung cấp thông tin, tài liệu không chính xác, thiếu trung thực liên quan đến nội dung kiểm tra;

d) Không thực hiện kết luận kiểm tra;

đ) Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

4. Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, viên chức quản lý có hành vi thiếu trách nhiệm trong việc chỉ đạo thực hiện kết luận kiểm tra.

III. Hạ bậc lương

Hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

IV. Giáng chức

Hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi không thực hiện kết luận kiểm tra.

V. Cách chức

1. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với cán bộ có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;

b) Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước;

c) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

d) Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra;

đ) Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính;

e) Không thực hiện kết luận kiểm tra;

g) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính.

2. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính.

3. Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với viên chức quản lý có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

a) Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về hành vi vi phạm hành chính; về thẩm quyền, thủ tục, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước và biện pháp xử lý hành chính;

b) Không thực hiện kết luận kiểm tra.

VI. Buộc thôi việc

Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức, viên chức có một trong các hành vi vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính sau đây:

1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý vi phạm hành chính;

2. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

3. Chống đối, cản trở người làm nhiệm vụ kiểm tra, đe dọa, trù dập người cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan kiểm tra, đoàn kiểm tra, gây khó khăn cho hoạt động kiểm tra;

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của người vi phạm hành chính khi xử lý vi phạm hành chính./.

PHÒNG QLXLVPHC&TDTHPL


3/2/2020 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLCác hình thức xử lý kỷ luật các bộ, công chức, viên chức trong thi hành pháp luật về xử lý vi hạm hành chính/HoatDongAnh/2020-03/xlvphc02_Key_19032020151200.3_Key_19032020151200.2020_Key_19032020151200.1_Key_19032020151200.jpg
3/2/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

Tài sản của Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá Quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 692,2m2 (Trường Tiểu học thị trấn Bến Cầu), thửa số 12, tờ bản đồ số 22, tại Khu phố 2, thị trấn Bến Cầu, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 3.657.584.800 đồng. Tiền đặt trước: 365.760.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 02/02/2021 (thứ ba). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 20&21/01/2021, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 10 giờ, ngày 05/02/2021 (thứ sáu).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


1/13/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-01/hinh dau gia 3_Key_13012021094838.jpg
1/13/2021 10:00 AMNoĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.

 Nhằm xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phòng, chống, ngăn chặn các vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phát hiện các quy định chưa thống nhất, đồng bộ hoặc chưa phù hợp với thực tiễn để kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ. Ngày 10/3/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ký ban hành Kế hạch kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2021 (Kế hoạch số 712/KH-UBND).

Theo đó, dự kiến trong quý III năm 2021, Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; kiểm tra việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai, về giao rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng, lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy tại các đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, Ban Quản lý vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, UBND các huyện Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu.

Các cơ quan, đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm xây dụng báo cáo thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính của đơn vị mình; cung cấp thông tin, hồ sơ tài liệu và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra; bố trí Lãnh đạo đơn vị làm việc với Đoàn Kiểm tra và chấp hành kết luận kiểm tra, xử lý kết quả kiểm tra trên cơ sở kiến nghị của Đoàn Kiểm tra trong kết luận kiểm tra./.

                                                                                                           Huy Bảo

                                                                                                          Phòng XDKT&QLTTPL – Sở Tư pháp

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinHuy BảoỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202/HoatDongAnh/2021-04/1_Key_02042021075747.bao_02_Key_02042021075747.4_Key_02042021075747.2021_Key_02042021075747.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Tăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnhTăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh

Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (viết tắt là Luật năm 2015); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Luật năm 2020); kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 và trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng thực hiện giai đoạn 2021-2030, để nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, cụ thể và khả thi; kiểm soát chặt chẽ đảm bảo không ban hành văn bản trái pháp luật trong năm 2021 và những năm tiếp theo.

Ngày 29 tháng 3 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 920/UBND-NC về việc tăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, theo đó Chủ tịch yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện tốt một số nội dung sau đây:

 12.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

1. Kịp thời cập nhật các văn bản của Bộ, ngành Trung ương chủ động báo cáo UBND tỉnh đưa vào Chương trình làm việc của UBND tỉnh để kịp thời đề xuất, tham mưu ban hành văn bản QPPL cho phù hợp. Thường xuyên tổ chức rà soát văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhằm kịp thời phát hiện những quy định, nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với quy định của văn bản pháp luật cấp trên và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp, đồng thời công bố các văn bản hết hiệu lực pháp luật theo quy định.

2. Căn cứ nội dung Chương trình công tác lập hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết, quyết định quy phạm pháp luật theo quy định quy định tại Điều 111 Luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 32 Điều 1 Luật năm 2020; Điều 127 Luật năm 2015; khoản 1 Điều 2 Quyết định số 588/QĐ-UBND.

3. Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh phải nghiên cứu kỹ, cụ thể hóa các nội dung thuộc thẩm quyền, tránh tình trạng dự thảo văn bản chuẩn bị sơ sài, chung chung, sao chép lại các quy định của cấp trên, sao chép văn bản địa phương khác không phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, không đáp ứng yêu cầu đề ra.

4. Thực hiện đúng, đầy đủ các quy trình về trình tự, thủ tục, hồ sơ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật năm 2015; Luật năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc kịp thời phản ánh về Sở Tư pháp để tổng hợp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh/HoatDongAnh/2021-04/12_Key_02042021075149.hong_Key_02042021075149.22_Key_02042021075149.3_Key_02042021075149.2020_Key_02042021075149.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lậpViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Cụ thể:

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định là quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục), bao gồm: quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy chế dân chủ trong quản lý các hoạt động giáo dục; trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục và người đứng đầu cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục.


11.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là áp dụng đối với nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non); trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục phổ thông); cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Và việc quản lý trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Thực hiện dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch về chất lượng giáo dục và điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, phù hợp với loại hình nhà trường và quy định của pháp luật về trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.

-  Thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, giáo dục bắt buộc đối với giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở theo quy định của pháp luật về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Về hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021./.

THU HỒNG

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập/HoatDongAnh/2021-04/11_Key_02042021074527.hong_Key_02042021074527.22_Key_02042021074527.3_Key_02042021074527.2020_Key_02042021074527.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Những trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thườngNhững trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thường

Theo Điều 13 Nghị định số 03/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,  thì doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe cơ giới, người lái xe hoặc người bị thiệt hại;

- Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Trường hợp người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy nhưng đã thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

- Người lái xe chưa đủ độ tuổi hoặc quá độ tuổi điều khiển xe cơ giới theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ; người lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không hợp lệ (có số phôi ghi ở mặt sau không trùng với số phôi được cấp mới nhất trong hệ thống thông tin quản lý Giấy phép lái xe) hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa hoặc sử dụng Giấy phép lái xe hết hạn sử dụng tại thời điểm xảy ra tai nạn hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không phù hợp đối với xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. Trường hợp người lái xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc bị thu hồi Giấy phép lái xe thì được coi là không có Giấy phép lái xe;

- Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp bao gồm: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;

- Thiệt hại đối với tài sản do lái xe điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm theo quy định của pháp luật;

- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;

- Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt;

- Chiến tranh, khủng bố, động đất.

Quy định định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2021. Các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã giao kết trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng. Trường hợp sửa đổi, bổ sung sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực, thực hiện theo quy định tại Nghị định này./.

 10.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

 

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngNhững trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thường/HoatDongAnh/2021-04/10_Key_02042021074209.hong_Key_02042021074209.22_Key_02042021074209.3_Key_02042021074209.2020_Key_02042021074209.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Đăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủĐăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì:


9.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp không được đăng ký tên doanh nghiệp trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.

2. Phòng Đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Để tránh tên doanh nghiệp bị trùng, nhầm và vi phạm quy định về đặt tên doanh nghiệp, ý kiến Phòng Đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng. Trường hợp không đồng ý với quyết định của Phòng Đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

3. Doanh nghiệp hoạt động theo Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương được cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 được tiếp tục sử dụng tên doanh nghiệp đã đăng ký và không bắt buộc phải đăng ký đổi tên doanh nghiệp trong trường hợp có tên trùng, tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

4. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng với nhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp.

Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 04 tháng 01 năm 2021./.

Chí Hiếu

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinThu HồngĐăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủ/HoatDongAnh/2021-04/9_Key_02042021073801.hong_Key_02042021073801.22_Key_02042021073801.3_Key_02042021073801.2020_Key_02042021073801.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Theo đó, mục đích, yêu cầu và nội dung kế hoạch được đề ra cụ thể như sau:

1. Về mục đích, yêu cầu

- Thông tin tuyên truyền, đào tạo, tập huấn các nội dung về năng suất và chất lượng cho doanh nghiệp trong tỉnh và các cơ quan quản lý có liên quan.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong tỉnh, ưu tiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa thuộc ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn của tỉnh (như bột mì, đường, giầy, quần áo, vỏ ruột xe, gạch, xi măng,...), sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu chủ lực, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn; hệ thống quản lý; công cụ cải tiến năng suất chất lượng; công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2. Nội dung cụ thể

- Tăng cường công tác thông tin truyền thông về năng suất, chất lượng

 Đăng báo, tờ rơi, phóng sự,... để thông tin tuyên truyền các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia (01 lần).

Tổ chức 01 hội nghị phổ biến các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,...  

Tham gia các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo, các buổi chia sẻ kinh nghiệm về các nội dung có liên quan đến năng suất và chất lượng, Giải thưởng Chất lượng quốc gia trong và ngoài tỉnh.

-  Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động nâng cao năng suất chất lượng

 Tổ chức 01 khóa đào tạo về các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,... cho các doanh nghiệp và cán bộ của các cơ quan quản lý chức năng trong tỉnh có liên quan.

 Đào tạo, tập huấn các kiến thức chuyên sâu các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,... cho cán bộ, công chức, chuyên gia đánh giá của các sở, ngành nhằm phục vụ hoạt động hướng dẫn, thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với các đơn vị tư vấn và doanh nghiệp, triển khai hoạt động Giải thưởng Chất lượng Quốc gia.

- Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng, công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh

Khảo sát, thu thập và số hóa dữ liệu (trực tiếp, điện tử,...), để đánh giá hiện trạng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh về áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ nâng cao năng suất chất lượng,… (khoảng 50 doanh nghiệp).

Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến: 06 hệ thống (Trong đó: 02 hệ thống giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các công cụ cải tiến nâng cao năng suất chất lượng: 04 công cụ (Trong đó: 02 công cụ giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp công bố hợp chuẩn: 02 sản phẩm.

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp công bố hợp quy: 01 sản phẩm (Nội dung này của giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng Tiêu chuẩn công bố áp dụng: 08 Tiêu chuẩn.

Hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tham gia và đạt Giải thưởng Chất lượng quốc gia (Trong đó: 01 giải vàng, 01 giải thưởng Chất lượng quốc gia năm 2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

- Tính toán mức đóng góp các chỉ tiêu tổng hợp (TFP) ảnh hưởng chủ yếu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh

Tính toán mức đóng góp các chỉ tiêu (Năng suất lao động, Năng suất vốn, Năng suất các yếu tố tổng hợp - TFP) ảnh hưởng chủ yếu đến tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh giai đoạn 2016-2020.

Để nội dung Kế hoạch triển khai đạt hiệu quả Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, thực hiện các nhiệm vụ được giao./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

950 ub. kh trien khai chuong trinh quoc gia.signed.pdf

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcChương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021/HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021090032.1_Key_05042021090032.2021_Key_05042021090032.16_Key_05042021090032.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021

Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/3/2021, HĐND và UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 08 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 01 Nghị quyết và 07 Quyết định. Cụ thể:

Về Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có 01 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 23/3/2021 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tỉnh và chính sách hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tỉnh Tây Ninh giai đọn 2017-2020. Theo đó Nghị quyết quy định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 theo chuẩn quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 đến hết ngày 31/12/2021.

Về quyết định của UBND tỉnh có 07 quyết định, gồm:

Quyết định số 01/2021/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Quyết định gồm 06 Điều trong đó có quy định về: Hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021 chung cho tất cả các loại đất ở các khu vực nông thôn, khu vực đô thị, Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài và Khu kinh tế Cửa khẩu Xa Mát; các trường hợp áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 01 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thay thế Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020 và Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020.

Quyết định số 02/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2030. Theo đó mật độ chăn nuôi tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được quy định như sau: (i) Thành phố Tây Ninh: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,26 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,40 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ii) Thị xã Hòa Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,39 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iii) Thị xã Trảng Bàng: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 1,08 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iv) Huyện Châu Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,91 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (v) Huyện Dương Minh Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,97 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vi) Huyện Tân Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,65 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,80 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vii) Huyện Tân Biên: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,53 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (viii) Huyện Gò Dầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,41 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,00 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ix) Huyện Bến Cầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,93 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Tại địa bàn cấp huyện có mật độ chăn nuôi đã đạt tới quy định thì chỉ cho đầu tư đối với những dự án chăn nuôi phù hợp chiến lược phát triển chăn nuôi, công nghệ chăn nuôi và môi trường sinh thái nhưng phải đảm bảo mật độ chăn nuôi trên toàn tỉnh không vượt quá 1,5 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021.

Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Theo đó Quy chế quy định về nguyên tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; các thành viên UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với UBND tỉnh chịu sự điều chỉnh của Quy chế này. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021, thay thế Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND ngày 20/10/2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND ngày 28/01/2021 phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó quyết định một số nội dung phân cấp nổi bật cho UBND cấp huyện như: Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm thuộc phạm vi phân cấp quản lý; lưu trữ có hệ thống các hồ sơ liên quan đến hoạt động kiểm tra việc thực hiện nội dung đã cam kết, thẩm định các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi phân cấp quản lý; thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn theo phân cấp quản lý, định kỳ trước ngày 01 của tháng cuối quý hoặc đột xuất theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/02/2021 và thay thế Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

          Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND ngày 18/3/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Quyết định số 35/2017/QD-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định giá dịch vụ tối đa sử dụng phà trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo đó quyết định đã sửa đổi quy định "Tổ chức và cá nhân thu giá dịch vụ sử dụng phà không do nhà nước đầu tư có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định hiện hành". Quyết định này được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/3/2021.

          Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định về tổ chức, chế độ, chính sách và trang bị đối với lực lượng Bảo vệ dân phố trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021 và thay thế các Quyết định số 07/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 12/2013/QĐ-UBND, Quyết định số 63/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND.

          Quyết định số 07/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Ban quản lý Vườn Quốc gia Lò gò – Xa mát. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021/HoatDongAnh/2021-04/2_Key_02042021143150.hong_Key_02042021143150.22_Key_02042021143150.3_Key_02042021143150.2020_Key_02042021143150.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Bộ Thông tin và truyền thông ban hành Quyết định số 377/QĐ-BTTTT phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Theo đó, mục tiêu và đối tượng của Chương trình được phê duyệt như sau:  

Mục tiêu chung:

Đẩy nhanh việc chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là doanh nghiệp SMEs) thông qua việc sử dụng các nền tảng số xuất sắc do Chương trình lựa chọn; các hoạt động của Chương trình nhằm giúp các doanh nghiệp SMEs tối ưu hóa hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực và lợi thế cạnh tranh, tạo ra các giá trị mới cho doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế số quốc gia và trong từng ngành, lĩnh vực, địa bàn.

Mc tiêu cụ thể:

- Lựa chọn và huy động được các nền tảng số xuất sắc tham gia Chương trình với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các doanh nghiệp SMEs sử dụng nền tảng số để đẩy nhanh chuyển đổi số doanh nghiệp.

- Tối thiểu 50.000 người/năm được tiếp cận Chương trình, cập nhật thông tin, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho doanh nghiệp.

- Tối thiểu 30.000 doanh nghiệp/năm được trải nghiệm các nền tảng số để chuyển đổi số doanh nghiệp.

- Thiết lập được Mạng lưới chuyên gia gồm tối thiểu 100 tổ chức, cá nhân tư vấn thúc đẩy chuyển đổi số.

Đối tượng của Chương trình:

- Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh có nhu cầu chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

- Các doanh nghiệp nền tảng số, cơ quan, tổ chức, hiệp hội, viện, trường có các công nghệ số, nền tảng số, và các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Chương trình được thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước, từ nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân, các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định hiện hành./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

377_QD-BTTTT.pdf
4/5/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcChương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số /HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021085121.1_Key_05042021085121.2021_Key_05042021085121.18_Key_05042021085121.jpg
4/5/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệpQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 17/QĐ-TTg quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó,  người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được hỗ trợ với mức học nghề như sau:

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề đến 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo mức thu học phí của cơ sở đào tạo nghề nghiệp và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/người/khóa đào tạo.

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề trên 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo tháng, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 1.500.000 đồng/người/tháng.

Trường hợp người lao động tham gia khóa đào tạo nghề có những ngày lẻ không đủ tháng theo quy định của cơ sở đào tạo nghề nghiệp thì số ngày lẻ được tính theo nguyên tắc: Từ 14 ngày trở xuống tính là ½ tháng và từ 15 ngày trở lên được tính là 01 tháng.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021. Đối với người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định hỗ trợ học nghề thì được áp dụng mức hỗ trợ học nghề theo các quy định tại Quyết định này./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

QD17TTghotrodaotaonghecothamgiaBHTN (1).pdf
4/5/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp/HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021084747.1_Key_05042021084747.2021_Key_05042021084747.17_Key_05042021084747.jpg
4/5/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng 4.053,8m2 đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu phố Thương mại Tân Biên tại Khu phố 2, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

+ Mục đích sử dụng đất: Xây dựng Khu phố thương mại, nhà ở thương mại.

+ Hình thức sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc Quyết định giao đất.

+ Thời sử dụng đất đối với Nhà đầu tư: 50 năm. (Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử đất của dự án được giao đất ổn định lâu dài).

- Giá khởi điểm: 67.108.891.543 đồng. Tiền đặt trước: 6.710.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 1.000.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy phép kinh doanh và giấy CMND, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản và hồ sơ năng lực theo tiêu chí (theo mẫu Trung tâm ban hành).

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 26/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 29/4/2021 (thứ năm).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/6/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_06042021145315.jpg
4/6/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
Hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây NinhHoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 238/KH-UBND thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo Kế hoạch thì nhiều hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong năm 2021 tiếp tục được thực hiện như:

- Xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu về văn bản quy phạm pháp luật: Duy trì, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành để đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử tỉnh Tây Ninh, trừ văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.

- Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật:

+ Nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị cấp có thẩm quyền hoàn thiện các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong quá trình sản xuất, kinh doanh và hội nhập của doanh nghiệp.

+ Tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các quy định pháp luật để tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật.

- Giải đáp pháp luật cho doanh nghiệp: Thực hiện giải đáp pháp luật theo yêu cầu của doanh nghiệp với các hình thức như bằng văn bản, thông qua mạng điện tử, giải đáp trực tiếp, thông qua điện thoại và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

- Bồi dưỡng kiến thức pháp luật: Các cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ chức đại diện của doanh nghiệp xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại địa phương.

- Xây dựng tài liệu giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật: Giới thiệu, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp ngay sau khi văn bản được ban hành.

- Tiếp nhận kiến nghị của doanh nghiệp về hoàn thiện pháp luật: Tổ chức việc tiếp nhận, tổng hợp kiến nghị của doanh nghiệp liên quan đến các quy định pháp luật để tham mưu đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật. Tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương liên để kiến nghị bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung những quy định không phù hợp, gây phiền hà cho doanh ngiệp./.

                                                                                               Trần Ngọc

KH 238 ub.signed.rar

1/28/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcHoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2021  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2021-01/ngoc11_Key_28012021144009.1_Key_28012021144009.2021_Key_28012021144009.11_Key_28012021144009.jpg
1/28/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Quyết định về việ công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2014Quyết định về việ công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2014

​Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dưới 413_2015_2.pdf 413_2015_2.rar

8/21/2018 5:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinVăn phòngQuyết định về việ công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần năm 2014/HoatDongAnh/2018-08/rasoatvanban_Key_21082018161503.jpg
8/21/2018 5:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá cho thuê quyền sử dụng 237,8 m2 đất để thực hiện dự án trong lĩnh vực Thương mại - Dịch vụ tại Khu phố 1, Phường 1, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Thời hạn cho thuê đất: 44 năm theo hình thức trả tiền thuê đất một lần.

- Giá khởi điểm: 8.223.361.800 đồng. Tiền đặt trước: 822.337.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 1.000.000 đồng.

Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND và Giấy phép kinh doanh, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản và hồ sơ năng lực theo tiêu chí.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 28/12/2020 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 31/12/2020 (thứ năm).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

12/9/2020 4:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2020-12/hinh dau gia 3_Key_09122020153450.jpg
12/9/2020 4:00 PMNoĐã ban hành
Hình thức xử phạt và mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dụcHình thức xử phạt và mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

 8.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

 

Theo đó hình thức xử phạt và mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục được quy định như sau:

1. Hình thức xử phạt chính, bao gồm:

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền.

2. Hình thức xử phạt bổ sung:

- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

- Trục xuất; đình chỉ hoạt động có thời hạn.

3. Mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục:

- Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực giáo dục đối với cá nhân là 50.000.000 đồng, đối với tổ chức là 100.000.000 đồng;

-  Mức phạt tiền quy định tại Chương II của Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại khoản 5 Điều 9, khoản 2 Điều 11, khoản 1 và các điểm a, b, c, d, e khoản 3 Điều 14, điểm b khoản 3 Điều 21, khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 29 của Nghị định này là mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Cùng một hành vi vi phạm hành chính, mức phạt tiền đối với cá nhân bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10 tháng 3 năm 2021 và thay thế Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục.

Chí Hiếu

3/23/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngHình thức xử phạt và mức tiền phạt trong lĩnh vực giáo dục/HoatDongAnh/2021-03/8_Key_23032021151837.hong_Key_23032021151837.22_Key_23032021151837.3_Key_23032021151837.2020_Key_23032021151837.jpg
3/23/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Công bố Danh mục hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật  kỳ 2014- 2018 trên địa bàn tỉnh Tây NinhCông bố Danh mục hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật  kỳ 2014- 2018 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thực hiện nhiệm vụ định kỳ hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 170 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Chương IX Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện hệ thống hóa văn bản thống nhất trong cả nước kỳ 2014-2018 và Kế hoạch số 240/KH-UBND ngày 25 tháng 01 năm 2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Tây Ninh kỳ 2014-2018.

Ngày 28 tháng 02 năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 512/QĐ-UBND về việc công bố kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018.

Sau khi tiến hành rà soát 890 văn bản trong kỳ hệ thống hóa 2014 – 2018  thì kết quả rà soát đạt được như sau:

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018 là 266 văn bản.

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh hết hiệu lực, ngưng hiệu lực một phần trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018 là 35 văn bản.

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh còn hiệu lực tính đến hết ngày 31/12/2018 là 624 văn bản.

- Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cần đình chỉ việc thi hành, ngưng hiệu lực, sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018 là 95 văn bản.

Căn cứ kết quả rà soát, hệ thống hóa kỳ 2014 – 2018. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao trách nhiệm cho Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và các đơn vị có liên quan thực hiện việc đăng tải kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và kiểm tra cập nhật bổ sung văn bản quy phạm pháp luật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật; chủ trì, phối hợp các sở, ban, ngành có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định; trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết quy phạm pháp luật bãi bỏ các văn bản cần đình chỉ việc thi hành, ngưng hiệu lực thi hành.

Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Trung tâm Công báo -Tin học đăng Công báo Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh hết hiệu lực toàn bộ hoặc hết hiệu lực một phần trong kỳ hệ thống hóa 2014-2018 theo quy định tại khoản 7 Điều 167 NĐ 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Các sở, ban, ngành có liên quan khẩn trương soạn thảo, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật thuộc trách nhiệm tham mưu, quản lý.

Việc công bố Danh mục hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật kỳ 2014- 2018 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nhằm tạo thuận lợi cho các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Tây Ninh và các tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận thông tin phục vụ việc áp dụng và thi hành pháp luật./.

 

                                                                                      Phương Anh

Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dưới

attachments.zip

3/12/2019 12:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinPhòng XD&KTVBQPPLCông bố Danh mục hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật  kỳ 2014- 2018 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2019-03/12_Key_12032019111829.3_Key_12032019111829.2019_Key_12032019111829.cb_Key_12032019111829.jpg
3/12/2019 12:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản

 

Tài sản của Sở Tài chính tỉnh Tây Ninh, như sau:

1) Đấu giá Quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 828,4m2 và tài sản gắn liền với đất, thửa số 86, tờ bản đồ số 32, tại Khu phố Ninh Phước, Phường Ninh Thạnh, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 7.047.403.844 đồng (Trong đó: giá trị QSDĐ là 6.880.690.400 đồng, giá trị tài sản trên đất là 166.713.444 đồng). 

- Tiền đặt trước: 704.740.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2) Đấu giá Quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 702,2m2 và tài sản gắn liền với đất, thửa số 2181, tờ bản đồ số 31, tại Khu phố Suối Sâu, Phường An Tịnh, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 15.388.878.204 đồng (Trong đó: giá trị QSDĐ là 15.058.118.000 đồng, giá trị tài sản trên đất là 330.760.204 đồng).

- Tiền đặt trước: 1.539.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

* Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

* Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

* Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 13/4/2021 (thứ ba). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 07&08/4/2021, tại nơi có bất động sản.

* Tổ chức đấu giá bắt đầu lúc: 09 giờ, ngày 16/4/2021 (thứ sáu).

* Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.



3/23/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-03/hinh dau gia 3_Key_23032021093210.jpg
3/23/2021 10:00 AMNoĐã ban hành
Thông báo đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao su 200 ha tại tỉnh DaLakThông báo đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao su 200 ha tại tỉnh DaLak

TRUNG TÂM DỊCH VỤ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH TÂY NINH

THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ TÀI SẢN

 

1. Tài sản của Công an tỉnh Tây Ninh

- Đấu giá kết quả đầu tư và chuyển nhượng quyền trồng, chăm sóc, khai thác cây cao su, cây keo, cây tếch trên diện tích 200 ha đất tại xã EaBung, huyện EaSup, tỉnh Đăklăk. Thời gian đầu tư quyền khai thác trồng và chăm sóc đến 23/9/2061.

- Giá khởi điểm: 17.847.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 2.700.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2. Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

3. Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND và Giấy phép kinh doanh, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản.

4. Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 08/11/2017 (thứ tư).

5. Tổ chức đấu giá: 08 giờ 30 phút, ngày 10/11/2017 (thứ sáu).

6. Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

7. Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có tài sản.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký tham gia đấu giá xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

10/19/2017 11:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo đấu giá quyền khai thác trồng và chăm sóc cây cao su 200 ha tại tỉnh DaLak/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/19/2017 11:00 AMNoĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 4)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất ONT diện tích 291,3m2; thửa số 1460; tờ bản đồ 27; tọa lạc tại: ấp Trâm Vàng 3, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 5.172.614.000 đồng. Tiền đặt trước: 517.262.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 19/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 22/4/2021 (thứ năm), tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Gò Dầu.

- Địa điểm đăng ký mua hồ sơ: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/1/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_01042021080041.jpg
4/1/2021 8:00 AMNoĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản

 

I. Đấu giá tài sản vật chứng vụ án hình sự của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh gồm 894 bành mủ cao su thiên nhiên CSRL, tương đương 29,799 tấn.

- Giá khởi điểm: 902.909.700 đồng. Tiền đặt trước: 136.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm), bản sao giấy CMND, bản sao giấy phép kinh doanh đúng ngành nghề.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 12/4/2021 (thứ ba). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc 07&08/4/2021, tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tây Ninh.

- Tổ chức đấu giá: 08 giờ 30 phút, ngày 15/4/2021 (thứ năm).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh. 

II. Đấu giá tài sản thanh lý của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tây Ninh, như sau:

1) 01 xe ô tô Ford 05 chỗ ngồi, biển số 70B-0558, số máy FP934748, số khung 7XXXSRNC4S05079, năm-nước sản xuất 2004-Việt Nam. Giá khởi điểm: 150.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 23.000.000 đồng.

2) 01 xe ô Ford 05 chỗ ngồi, biển số 70A-001.38, số máy ZM-469142, số khung JS7XXXSRNLJ00789, năm-nước sản xuất 2001-Việt Nam. Giá khởi điểm: 110.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 17.000.000 đồng.

3) Xe ô tô Toyota 05 chỗ ngồi, biển số 70A-003.38, số máy 4A-M0765575, số khung AE111-0020050, năm-nước sản xuất 1997-Việt Nam. Giá khởi điểm: 70.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 11.000.000 đồng.

4) Xe ô tô Mitsubisshi 08 chỗ ngồi, biển số 70B-0468, số máy 4G63V-Z0384A, số khung NOOVB2W31001412, năm-nước sản xuất 2003-Việt Nam thuộc Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Tây Ninh. Giá khởi điểm: 70.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 11.000.000 đồng.

5) Xe ô tô Toyota 05 chỗ ngồi, biển số 70C-0075, số máy 3S-1569053, số khung T191-0027383, năm-nước sản xuất 1992-Nhật thuộc Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh. Giá khởi điểm: 90.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 14.000.000 đồng.

- Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá tài sản 1,2: 200.000 đồng; tài sản 3,4,5: 150.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên. Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 12/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp 02 ngày làm việc: 07&08/4/2021, tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

- Tổ chức đấu giá: 10 giờ, ngày 15/4/2021 (thứ năm). Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.



3/29/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-03/hinh dau gia 3_Key_29032021143238.jpg
3/29/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
Quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôiQuy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi

Ngày 01 tháng 3 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2021/NĐ-CP quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi.Theo đó Nghị định có quy định về:

- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi là 01 năm, trừ trường hợp vi phạm hành chính về sản xuất, mua bán, nhập khẩu, xuất khẩu giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, sản phẩm chăn nuôi, vật nuôi sống làm thực phẩm thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.

- Mức phạt tiền, thẩm quyền xử phạt, bao gồm:

+ Mức phạt tiền tối đa cho một hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

+ Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính do cá nhân thực hiện. Đối với tổ chức có cùng hành vi vi phạm, mức phạt tiền gấp 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

+ Thẩm quyền xử phạt của các chức danh quy định tại Chương III Nghị định này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.

- Nghị định này có hiệu lực từ ngày 20 tháng 4 năm 2021 và bãi bỏ các quy định về thức ăn chăn nuôi, giống vật nuôi trong Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản; điểm b khoản 7 Điều 20 Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y.

Bên cạnh đó Nghị định cũng quy định chuyển tiếp đối với hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực; những quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành; các hành vi vi phạm trong hoạt động chăn nuôi được phát hiện sau khi Nghị định này có hiệu lực, như sau:

- Đối với hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi xảy ra trước khi Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm.

- Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản.

- Đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động chăn nuôi được phát hiện sau khi Nghị định này có hiệu lực thuộc trường hợp được chuyển tiếp tại Luật Chăn nuôi và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Chăn nuôi thì tiếp tục áp dụng các quy định tại Nghị định số 64/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, thủy sản để xử lý đến hết thời gian chuyển tiếp.

 6.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

3/23/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngQuy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi/HoatDongAnh/2021-03/6_Key_23032021151351.hong_Key_23032021151351.22_Key_23032021151351.3_Key_23032021151351.2020_Key_23032021151351.jpg
3/23/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bảnLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bản

Tại Kỳ họp thứ 10, ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính - Luật số 67/2020/QH14 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022). Theo đó, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực; thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đối tượng và điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính… đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm thể chế kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cơ bản khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội.

1. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC

Luật XLVPHC được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014. Sau hơn 07 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật XLVPHC đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập lớn, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, cụ thể:

Một là, đối với quy định chung tại Phần thứ nhất của Luật XLVPHC, những khó khăn, vướng mắc tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: Quy định về giải thích từ ngữ "tái phạm" có sự không thống nhất với quy định "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm" của Bộ luật hình sự (BLHS); sự không thống nhất giữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 về việc xử lý đối với trường hợp "vi phạm hành chính nhiều lần"; tại Điều 12 Luật XLVPHC quy định về những hành vi bị nghiêm cấm, tuy nhiên, trên thực tế, còn một số hành vi vi phạm thường xảy ra trong quá trình áp dụng pháp luật nhưng chưa được Luật XLVPHC quy định là hành vi bị nghiêm cấm...

Hai là, đối với công tác xử phạt vi phạm hành chính, những khó khăn, vướng mắc chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực còn quá thấp, thiếu tính răn đe; sự thay đổi tên gọi, chức năng, nhiệm vụ của một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến thay đổi về thẩm quyền xử phạt; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm bị giới hạn bởi thẩm quyền phạt tiền dẫn đến tình trạng dồn quá nhiều vụ việc lên cơ quan cấp trên; thiếu quy định về việc cấp trưởng được giao quyền cho cấp phó trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; các quy định về thời hạn, thời hiệu thực hiện các công việc chưa phù hợp thực tế; thủ tục thực hiện một số công việc (như lập biên bản vi phạm hành chính, giải trình…) chưa cụ thể; quy định về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện vi phạm hành chính cũng gặp một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng do phạm vi lĩnh vực được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ còn hạn hẹp, chưa có quy định cụ thể về quy trình "chuyển hóa" kết quả thu được từ các phương tiện, thiết bị do các cá nhân, tổ chức cung cấp thành chứng cứ để xác định vi phạm hành chính; thủ tục xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính còn nhiều bất cập; chưa có quy định về việc hoãn thi hành quyết định phạt, giảm, miễn tiền phạt cho đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức, chưa có quy định về thời hạn, thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính…

Ba là, đối với việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính: Việc quy định điều kiện, đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo Luật XLVPHC hiện hành khiến cho việc triển khai công tác này trên thực tế rất hạn chế (đặc biệt là quy định thực hiện hành vi vi phạm "02 lần trở lên trong 06 tháng"); quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong một số trường hợp không có sự thống nhất với quy định của BLHS; thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị kéo dài không cần thiết do đối tượng phải trải qua biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn rườm rà, nhiều quy định chưa thống nhất; một số quy định thiếu tính khả thi; thiếu quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người sử dụng trái phép chất ma túy...

Bốn là, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật hiện hành cũng gặp nhiều vướng mắc, bất cập, cụ thể là: Việc quy định những trường hợp được áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính quá hạn hẹp; chưa có quy định cụ thể việc thẩm quyền tạm giữ của một chức danh có bị giới hạn bởi thẩm quyền tịch thu của chức danh đó không (trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ có được vượt quá thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện không); thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính còn rườm rà, chưa tạo điều kiện cho người có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ trên thực tế…

Năm là, đối với công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, khó khăn, vướng mắc chủ yếu phát sinh trong công tác báo cáo định kỳ: Việc quy định chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng thực tế đã và đang gây nhiều khó khăn cho các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện việc thống kê, tổng hợp báo cáo do quy định mật độ báo cáo định kỳ như vậy là quá dày, trong khi nội dung, yêu cầu báo cáo nhiều, phức tạp.

Bên cạnh đó, thời gian qua, một số Bộ luật, Luật mới được ban hành như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) - BLHS; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Quản lý ngoại thương năm 2017; Luật Dược năm 2016; Luật Thú y năm 2015; Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Pháp lệnh Quản lý thị trường năm 2016; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; Luật Cạnh tranh năm 2018; Luật Quản lý thuế năm 2019; Luật Chứng khoán năm 2019… đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định của Luật XLVPHC hiện hành để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

Xuất phát từ những lý do trên, Chính phủ đã đề xuất Quốc hội đưa dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020 (Nghị quyết số 78/2019/QH14 ngày 11/6/2019 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019) nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý và thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

2. Những điểm mới cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC

Như đã nêu trên, trong khuôn khổ Chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 13/11/2020 vừa qua, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC với tỷ lệ 92,53% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành và Luật sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC được thông qua đánh dấu một bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.

Về bố cục, cũng tương tự như các dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC gồm 03 điều, bao gồm:

- Điều 1 - Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC (có 75 khoản);

- Điều 2 - Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 163 của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13 và Luật số 23/2018/QH14).

- Điều 3 - Hiệu lực thi hành.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC đã sửa đổi, bổ sung nội dung của 66/142 điều (trong đó 16 điều sửa đổi, bổ sung toàn diện), sửa kỹ thuật 11/142 điều, bổ sung mới 04 điều, bãi bỏ 03 điều của Luật XLVPHC hiện hành, với những điểm mới cơ bản sau đây:

2.1. Về những quy định chung

Luật đã sửa đổi, bổ sung một số quy định chung tại Phần thứ nhất của Luật XLVPHC bao gồm:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung khái niệm tái phạm quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật XLVPHC để bảo đảm thống nhất với quy định của BLHS, bảo đảm tính công bằng, khách quan trong áp dụng pháp luật. Theo đó, tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm hành chính nhiều lần tại điểm d khoản 1 Điều 3 của Luật XLVPHC [1] theo hướng: Một người thực hiện vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng. Quy định này sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành thời gian qua liên quan đến quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 Luật XLVPHC hiện hành [2], bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật trên thực tiễn

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thẩm quyền quy định về xử phạt vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Điều 4 Luật XLVPHC [3]:

(i) So với Luật XLVPHC hiện hành, ngoài việc được giao quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; Chính phủ còn được giao quy định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; đối tượng bị xử phạt; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Quy định này sẽ góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định) xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

(ii) Biểu mẫu sử dụng trong xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

(iii) Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, căn cứ quy định của Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật XLVPHC về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính [4], theo đó:

(i) Tăng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa đơn lên 02 năm, sửa đổi tên gọi của một số lĩnh vực tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC để bảo đảm thống nhất với Điều 24 Luật XLVPHC, đồng thời, quy định rõ vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

(ii) Sửa đổi quy định về thời hiệu áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 6 Luật XLVPHC;

(iii) Bổ sung quy định về việc tính thời hiệu trong trường hợp cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo hướng thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Thứ năm, bổ sung một số hành vi vi phạm thường xảy ra trong quá trình áp dụng pháp luật nhưng chưa được Luật XLVPHC quy định là hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 Luật XLVPHC như: Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng mức xử phạt không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính; không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả. Việc bổ sung quy định này căn cứ vào thực tiễn kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thời gian qua, nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm của người có thẩm quyền, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ và thực hiện đúng phương châm "Chính phủ kiến tạo".

2.2. Về mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước

So với Luật XLVPHC hiện hành, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC được sửa đổi, bổ sung theo hướng:

(i) Tăng mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực như: Giao thông đường bộ; phòng, chống tệ nạn xã hội; cơ yếu, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia, giáo dục; điện lực; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thủy lợi; báo chí; kinh doanh bất động sản.

Mức phạt tiền tối đa trong Luật sửa đổi, bổ sung lần này được cân nhắc điều chỉnh nâng lên phù hợp với tính chất xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước của một số lĩnh vực, bảo đảm ý nghĩa răn đe và phòng ngừa của chế tài xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta.

(ii) Bổ sung quy định mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực như: Tín ngưỡng, đối ngoại; cứu nạn, cứu hộ; in; an toàn thông tin mạng; kiểm toán nhà nước, cản trở hoạt động tố tụng.

(iii) Sửa đổi tên của một số lĩnh vực như: Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng thành trồng trọt; sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi thành chăn nuôi; dạy nghề thành giáo dục nghề nghiệp; quản lý rừng, lâm sản thành lâm nghiệp; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác thành hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; hạn chế cạnh tranh thành cạnh tranh…

2.3. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung tên gọi/bãi bỏ một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành xuất phát từ việc một số cơ quan, đơn vị được sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong thời qua. Ví dụ: một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường, Hải quan...

Thứ hai, Luật bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc các lực lượng, cơ quan như: Kiểm ngư (Điều 43a); Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (Điều 45a); Kiểm toán nhà nước (Điều 48a)...

Thứ ba, Luật đã chỉnh lý quy định về thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo hướng:

(i) Bên cạnh thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của các chức danh là cấp cuối cùng của mỗi lực lượng đã được Luật XLVPHC hiện hành quy định, dự thảo Luật bổ sung thêm 08 nhóm chức danh (chủ yếu thuộc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc ở cấp tỉnh hoặc liên tỉnh) có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không phụ thuộc vào giá trị tang vật, phương tiện [6].

(ii) Các chức danh khác ở cấp cơ sở có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt theo thẩm quyền để vừa tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành (phát sinh quá nhiều vụ việc vi phạm do trị giá tang vật phương tiện vi phạm vượt quá thẩm quyền phạt tiền nên cơ quan cấp dưới phải chuyển lên cấp trên, dẫn đến tình trạng ùn tắc, quá tải, không thể kịp thời xử lý các hành vi vi phạm bảo đảm đúng về thời hạn và trình tự theo quy định của Luật), vừa bảo đảm quyền lực được kiểm soát và giới hạn, tương xứng với nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về trường hợp chức danh có sự thay đổi về tên gọi nhưng không có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó được giữ nguyên và trường hợp có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn (tên gọi được giữ nguyên hoặc có sự thay đổi) thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung quy định về giao quyền xử phạt theo hướng cấp trưởng có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong thời gian được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, cấp phó có quyền hạn như cấp trưởng đối với phạm vi được giao, trừ quyền áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính (cấp trưởng chỉ được thực hiện việc giao quyền áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính cho cấp phó trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt theo quy định tại Điều 123 của Luật XLVPHC).

2.4. Về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

So với Luật XLVPHC hiện hành, Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thủ tục xử phạt theo hướng tăng thời gian tiến hành một số công việc, sửa đổi thủ tục thực hiện một số công việc bảo đảm tính cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tế, bảo đảm tính khả thi nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật thời gian qua, cụ thể:

Một là, Luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định về lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 58 Luật XLVPHC) [7]theo hướng quy định nguyên tắc "phải kịp thời lập biên bản" và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định cụ thể về thời hạn lập biên bản để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay, bảo đảm phù hợp với từng lĩnh vực quản lý nhà nước; đồng thời, quy định cụ thể về địa điểm lập biên bản, nội dung biên bản và bổ sung quy định về việc lập biên bản vi phạm hành chính qua phương thức điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này...

Hai làtăng thời hạn định giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tại khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC [8] từ 24 giờ lên 48 giờ để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, đồng thời, bảo đảm việc định giá cũng như xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính chính xác.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp và thủ tục giải trình tại Điều 61 Luật XLVPHC [9] nhằm bảo đảm tính khả thi trên thực tế. Theo đó, đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Về thời hạn giải trình, Luật chỉ sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, theo đó, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính từ "trong thời hạn không quá 05 ngày" thành "trong thời hạn 05 ngày làm việc", kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Đồng thời, Luật quy định rõ việc gia hạn của người có thẩm quyền xử phạt phải bằng văn bản. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, Luật sửa quy định về việc người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp từ "trong thời hạn 05 ngày" thành "trong thời hạn 05 ngày làm việc", kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Luật đã bổ sung 01 khoản quy định về trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không yêu cầu giải trình nhưng trước khi hết thời hạn lại có yêu cầu giải trình thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung Điều 64 Luật XLVPHC [10] theo hướng mở rộng lĩnh vực được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính, bao gồm trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống ma túy, phòng, chống tác hại của rượu, bia và lĩnh vực khác do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội...

Năm là,  Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hết thời hiệu thi hành, thời hiệu cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng:

(i) Người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 Luật XLVPHC, nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

(ii) Đối với trường hợp hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật XLVPHC) thì không thi hành quyết định đó nữa, nhưng vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nếu quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả.

(iii) Đối với trường hợp hết thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế (quy định tại khoản 2a Điều 88 Luật XLVPHC) thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó, nhưng vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Sáu là, Luật sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 66 Luật XLVPHC [11] để khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh thời gian qua như: Hầu hết các bộ, ngành địa phương đều cho rằng, thời hạn ra quyết định xử phạt theo quy định của Luật XLVPHC hiện hành (07 ngày) là quá ngắn, không bảo đảm tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn, gây nhiều khó khăn cho người có thẩm quyền xử phạt. Quy định về việc gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính gặp rất nhiều vướng mắc (đặc biệt là tiêu chí xác định thế nào là thủ trưởng cấp trên trực tiếp thực hiện việc gia hạn), gây khó khăn cho người có thẩm quyền xử phạt, dẫn đến tình trạng có rất nhiều trường hợp bị quá thời hạn ra quyết định xử phạt, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính.

Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 66 Luật XLVPHC theo hướng:

(i) Đối với vụ việc vi phạm hành chính thông thường thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

(ii) Riêng đối với vụ việc mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan quy định tại Điều 59 của Luật XLVPHC thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc thuộc trường hợp cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Việc bỏ quy định về thủ tục gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính được nhanh chóng, thuận lợi, kịp thời hơn, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính nói riêng và quản lý nhà nước nói chung.

2.5. Về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

So với Luật XLVPHC hiện hành, Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung quy định về hoãn, miễn, giảm tiền phạt tại Điều 76 và Điều 77 Luật XLVPHC theo hướng bổ sung quy định tổ chức cũng được hoãn, giảm, miễn tiền phạt để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho tổ chức/doanh nghiệp khi gặp khó khăn  đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh…[12], cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

(i) Cá nhân bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, tổ chức bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên.

(ii) Cá nhân đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; tổ chức đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh. Tùy từng trường hợp cụ thể, cá nhân, tổ chức phải có xác nhận của các cơ quan, tổ chức sau: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện trở lên; Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Thứ hai, việc giảm một phần tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi:

(i) Cá nhân tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc.

(ii) Tổ chức tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Thứ ba, Luật bổ sung quy định tổ chức cũng được miễn phần tiền phạt còn lại và miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt bên cạnh quy định miễn tiền phạt cho cá nhân như Luật XLVPHC hiện hành.

Tuy nhiên, để được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt, tổ chức phải đáp ứng đủ các điều kiện, bao gồm:

(i) Đã được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này.

(ii) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

(iii) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Tổ chức được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ các điều kiện:

(i) Đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này.

(ii) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

(iii) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

2.6. Về đối tượng, điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng và điều kiện áp dụng các biện pháp xử lý hành chính:

Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đối tượng và điều kiện áp dụng các biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với BLHS; quy định về độ tuổi, số lần vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính... bảo đảm phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính khả thi, cụ thể:

- Quy định cụ thể các hành vi vi phạm là điều kiện để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Làm rõ hơn quy định "02 lần trở lên trong 06 tháng", thống nhất trong cách áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm "02 lần trong 06 tháng" là điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để bảo đảm tính khả thi;

- Bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người sử dụng trái phép chất ma túy (người từ đủ 14 tuổi trở lên đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy);

- Bỏ quy định áp dụng biện pháp "tiền đề" giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định; đồng thời, sửa đổi quy định về đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hướng viện dẫn đến quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhằm tránh phát sinh xung đột giữa hai Luật.  

Thứ hai, Luật số 67/2020/QH14 cũng đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nhằm đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn tối đa các mốc thời gian thực hiện các công việc. Trong đó, đáng chú ý nhất là việc sửa đổi các quy định tại khoản 1 Điều 98, khoản 3 Điều 99, khoản 3 Điều 101 và khoản 3 Điều 103 Luật XLVPHC liên quan đến thủ tục kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo hướng:

(i) Không quy định việc kiểm tra tính pháp lý thành một thủ tục riêng biệt, độc lập;

(ii) Không quy định thẩm quyền kiểm tra tính pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thay vào đó, dự thảo Luật quy định rõ, cơ quan nào lập hồ sơ đề nghị thì phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ.

Thứ ba, Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 131 Luật XLVPHC theo hướng:

(i) Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có nơi cư trú ổn định, cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định giao cho gia đình quản lý đối tượng trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

(ii) Đối với người không có nơi cư trú ổn định hoặc có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý thì cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định: Giao cho trung tâm, cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người vi phạm cư trú hoặc có hành vi vi phạm tổ chức quản lý trong trường hợp bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

2.7.  Bên cạnh những vấn đề nêu trên, Luật số 67/2020/QH14 cũng sửa đổi, bổ sung quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như: Bổ sung trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính tại Điều 122 Luật XLVPHC [13]; sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính tại Điều 123 Luật XLVPHC [14]; sửa đổi quy định về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề tại Điều 125 Luật XLVPHC [15]; sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu tại Điều 126 Luật XLVPHC [16]; bãi bỏ quy định về việc báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính định kỳ 06 tháng tại Điều 17 Luật XLVPHC nhằm giảm bớt thủ tục và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện việc thống kê, tổng hợp báo cáo; bổ sung biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính giáo dục dựa vào cộng đồng (Điều 140a) áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính...

Lời kết

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng của quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, liên quan đời sống hàng ngày của nhân dân được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Do đó, cần phải được tổ chức phổ biến, quán triệt và thực hiện một cách hiệu quả Luật, đặc biệt là những điểm mới, những thay đổi của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC so với Luật hiện hành, góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương hành chính; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đáp ứng yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay./.

Nguồn: Bộ Tư pháp

https://xlvphc.moj.gov.vn/qt/tintuc/pages/trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=134

3/19/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bản/HoatDongAnh/2021-03/1_Key_23032021150646.hong_Key_23032021150646.22_Key_23032021150646.3_Key_23032021150646.2020_Key_23032021150646.jpg
3/19/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thị xã Hòa Thành, như sau:

1) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 286,9m2, thửa số 280, tờ bản đồ số 15, tại Khu phố Long Chí, Phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 4.039.583.653 đồng. 

- Tiền đặt trước: 403.959.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 322,4m2, thửa số 01, tờ bản đồ số 25, tại Khu phố Hiệp An, Phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 11.202.263.008 đồng. 

- Tiền đặt trước: 1.120.227.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

* Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

* Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

* Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 12/4/2021 (thứ hai). 

* Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 15/4/2021 (thứ năm).

* Liên hệ Người có tài sản để xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

* Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


3/19/2021 11:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-03/hinh dau gia 3_Key_19032021104328.jpg
3/19/2021 11:00 AMNoĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tổng kết 08 năm thực hiện Nghị định số 81/2013/NĐ-CP; Nghị định số 97/2017/NĐ-CP   Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tổng kết 08 năm thực hiện Nghị định số 81/2013/NĐ-CP; Nghị định số 97/2017/NĐ-CP  

Thực hiện Quyết định số 183/QĐ-BTP ngày 05/02/2021 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Công văn số 369/BTP-QLXLVPHC&TDTHPL ngày 05/02/2021 của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh thực hiện tổng kết 08 năm thi hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP. Kết quả từ năm 2013 đến năm 2020 đã thực hiện được một số hoạt động nổi bật như sau:

Về công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố triển khai nghiêm túc, đồng bộ các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương như: (i) Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1950/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Xây dựng tổ chức bộ máy, biên chế triển khai thực hiện quản lý thống nhất công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan tư pháp địa phương"; (ii) Ban hành đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh đến năm 2020; (iii) Tổ chức lại Cơ sở cai nghiện ma túy trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; (iv) Ban hành quy chế phối hợp lập hồ sơ cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh Tây Ninh; (v) Ban hành kế hoạch thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở cai nghiện ma túy đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; (vi) Tổ chức theo dõi chuyên đề công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính về áp dụng biện pháp GDTXPTT năm 2016, 2017; (vii) Tổ chức điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn năm 2016.

Ngoài ra định kỳ hàng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh còn tiến hành một số hoạt động nhằm thực hiện các quy định quản lý nhà nước về thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (THPL về XLVPHC) như: (i) Ban hành Kế hoạch quản lý công tác THPL về XLVPHC; (ii) Thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để thực hiện kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại một số sở, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố theo kế hoạch; (iii) Ban hành hơn 30 văn bản để triển khai thi hành các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, hướng dẫn nghiệp vụ, góp ý, đôn đốc, nhắc nhở, chấn chỉnh các nội dung liên quan đến lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính.

Về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, việc ban hành các văn bản quy định chi tiết theo thẩm quyền luôn được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính luôn được lãnh đạo tỉnh ban hành đầy đủ, kịp thời theo đúng trình tự thủ tục quy định góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính tại địa phương. Từ 2013 đến 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành 02 nghị quyết và 04 quyết định liên quan đến lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính.  

 

Về công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, hàng năm, UBND tỉnh đều xây dựng kế hoạch và tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại các đơn vị trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra liên ngành đã giúp các cơ quan, đơn vị, địa phương khắc phục những tồn tại, hạn chế đồng thời ghi nhận những khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính. Qua đó giúp cho công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính tại các cơ quan, đơn vị, địa phương được thực hiện nghiêm minh, chặt chẽ, kịp thời và triệt để. Kết quả từ năm 2013 đến năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã thành lập các Đoàn kiểm tra và thực hiện 44 lượt kiểm tra tại các sở, ban, ngành tỉnh và địa phương.

Về công tác phổ biến pháp luật, từ năm 2013 đến năm 2020, các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh thực hiện tuyên truyền, phổ biến pháp luật với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, cụ thể: (i) Tuyên truyền trực tiếp được hơn 5.856 cuộc với 264.027 lượt người tham gia; (ii) Tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh huyện, xã, thị trấn hơn 217 giờ về Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP; (iii) Cấp phát hơn 44.600 tờ gấp, tờ bướm pháp luật về Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn; 2.500 bộ đề cương giới thiệu pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và đội ngũ làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật cấp huyện, cấp xã; (iv) Xây dựng phát sóng các chuyên mục, chuyên trang tuyên truyền cho nhân dân việc thực hiện các quy định xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về an ninh trật tự như: Chuyên mục "Pháp luật với đời sống", Chương trình "Tiếng nói cử tri", Chuyên mục An ninh trật tự trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình, Chuyên trang Vì an ninh Tổ quốc trên Báo Tây Ninh; (v) Thông qua "Ngày pháp luật"; thực hiện lồng ghép thông qua cuộc họp giao ban, định kỳ; thông qua các hoạt động của các câu lạc bộ; cuộc họp, sinh hoạt ở ấp, khu phố, các cơ quan, đon vị đã tổ chức tuyên truyền văn bản pháp luật đến cán bộ, công chức và nhân dân được 322 cuộc với 14.337 lượt người tham dự những nội dung cơ bản của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP và đăng tải trên Website toàn bộ nội dung của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP….

Về công tác tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, hàng năm UBND tỉnh tổ chức tập huấn nghiệp vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại địa phương cho các đối tượng là cán bộ đầu mối của các sở, ban, ngành tỉnh; các đơn vị ngành dọc đóng trên địa bàn tỉnh, Báo Tây Ninh, Đài phát thanh và truyền hình Tây Ninh; Lãnh đạo UBND, lãnh đạo Phòng Tư pháp và cán bộ đầu mối làm công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật của các huyện, thị xã, thành phố. Nội dung tập huấn chủ yếu tập trung vào những nội dung sau: Trách nhiệm của UBND cấp huyện, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp trong việc giúp UBND cấp huyện thực hiện nhiệm vụ quản lý trong công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi địa phương, nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tại UBND cấp xã; Kỹ năng xác định hành vi vi phạm hành chính và lập biên bản vi phạm hành chính; Kỹ năng ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính; Một số quy định mới trong các văn bản sửa đổi, bổ sung…. Kết quả từ năm 2013 đến năm 2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức 08 hội nghị tập huấn chuyên sâu công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính cho hơn 1.000 lượt cán bộ, công chức tham dự.  Ngoài ra, từ năm 2013 đến năm 2020 Ủy ban nhân dân tỉnh cử hơn 100 cán bộ tham gia các lớp tập huấn do Bộ Tư pháp tổ chức.

Phương Loan

3/17/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhương LoanỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tổng kết 08 năm thực hiện Nghị định số 81/2013/NĐ-CP; Nghị định số 97/2017/NĐ-CP   /HoatDongAnh/2021-03/08_Key_17032021084141.03_Key_17032021084141.2021_Key_17032021084141.5_Key_17032021084141.jpg
3/17/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Những khó khăn, vướng mắc chủ yếu trong triển khai áp dụng một số  quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CPNhững khó khăn, vướng mắc chủ yếu trong triển khai áp dụng một số  quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP

Qua tổng kết 08 năm thi hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính, bên cạnh những kết quả đạt được, các sở, ban, ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đã gặp những khó khăn, vướng mắc như sau:

Một là, tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP có sử dụng một số từ ngữ mang tính định tính như: vi phạm có tính chất, mức độ nghiêm trọng xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước (điểm a khoản 1 Điều 3); vi phạm nghiêm trọng được thực hiện do lỗi cố ý (điểm a khoản 2 Điều 3). Nhưng trong Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP không quy định như thế nào là "vi phạm có tính chất, mức độ nghiêm trọng, vi phạm nghiêm trọng". Vì chưa có tiêu chí cụ thể cho từng mức độ nên việc hiểu như thế nào là "vi phạm nghiêm trọng" phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật. Việc này sẽ làm cho việc áp dụng pháp luật không thống nhất do mỗi người có quan niệm khác nhau về tính chất nghiêm trọng của vụ việc vi phạm.

Hai là, về tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền tạm giữ phải ban hành quyết định tạm giữ theo mẫu Quyết định 19 ban hành kèm theo Nghị định 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ phải lập biên bản, ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện bị tạm giữ, phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ, giao cho người vi phạm một bản. Như vậy, theo quy định trên thì khi tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì người ra quyết định phải có mặt tại hiện trường, phải có con dấu của cơ quan kèm theo… Quy định này đã gây rất nhiều khó khăn trong quá trình tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính cho các Đoàn kiểm tra, người thi hành công tác kiểm tra vì những người có thẩm quyền tạm giữ như Chủ tịch UBND huyện, xã thì không thể có mặt thường xuyên tại nơi xảy ra vi phạm để ký quyết định, biên bản.

Ba là, điểm c khoản 6 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định: việc giao quyền chấm dứt khi "Cấp trưởng chấm dứt việc giao quyền cho cấp phó. Trong trường hợp này, việc chấm dứt giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định". Tuy nhiên, tại Phụ lục kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP không có mẫu quyết định chấm dứt việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Bốn là, phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định mẫu quyết định số 02 dùng cho cả trường hợp một hoặc nhiều cá nhân/tổ chức thực hiện một hoặc nhiều hành vi vi phạm hành chính. Nhưng tại phần hướng dẫn sử dụng mẫu thì không hướng dẫn cách sử dụng mẫu trong trường hợp một hoặc nhiều cá nhân/tổ chức thực hiện một hoặc nhiều hành vi vi phạm hành chính.

Năm là, phần căn cứ tại mẫu quyết định về việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính (mẫu quyết định số 29) chưa đầy đủ, chưa chính xác "Căn cứ khoản 6 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý, vi phạm hành chính (được bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số..../2017/NĐ-CP ngày ..../..../2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP)", vì khoản 6 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP và chỉ quy định về các trường hợp chấm dứt việc giao quyền. Các quy định liên quan đến việc giao quyền xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại các khoản 4, 5, 5a, 6 Điều 5 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại các khoản 3, 4, 5 Điều 1 Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).

Sáu là, sự phối hợp giữa các ngành trong công tác thông tin, truyền thông, tuyên truyền đôi lúc chưa chặt chẽ, nội dung, hình thức tuyên truyền chưa đi vào chiều sâu, chưa lan tỏa rộng trong nhân dân; dẫn đến một số cơ sở ở vùng sâu, vùng xa kiến thức và nhận thức pháp luật còn hạn chế; Công tác tuyên truyền pháp luật nhất là lĩnh vực chuyên ngành thực hiện chưa đạt hiệu quả; Việc bồi dưỡng tập huấn kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn chưa được thường xuyên.

Bảy là, về công tác kiểm tra, thanh tra, công chức được phân công phụ trách nhiệm vụ thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan, đơn vị cấp huyện và UBND các xã, phường, thị trấn là kiêm nhiệm, công việc nhiều nên đôi lúc tham mưu UBND cấp huyện, UBND cấp xã trong việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính còn hạn chế, chưa kịp thời.

Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trên gồm: (i) Các đối tượng vi phạm chưa có ý thức chấp hành pháp luật, trong khi đó chi phí áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính theo quy định pháp luật có lúc cao hơn tiền phạt nên rất khó khăn khi tiến hành cưỡng chế; (ii)Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính lớn, nhiều nội dung khó, phức tạp; trong khi đó, công chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về XLVPHC là kiêm nhiệm, do đó ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ công việc đặc biệt là cán bộ, công chức ở cấp xã; (iii) Công tác phối hợp giữa các ngành chưa thật sự đồng bộ. Lực lượng làm công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính còn thiếu, chủ yếu là kiêm nhiệm; (iv) Các quy định về chế độ liên quan đến cán bộ làm công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính chưa rõ ràng; (v) Đời sống của người dân tại khu vực biên giới còn nhiều khó khăn. Nhất là người dân là đồng bào dân tộc có trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết pháp luật, điều kiện kinh tế khó khăn; đặc biệt là ở vùng sâu vùng, vùng xa, điều kiện giao thông khó khăn, địa bàn rộng, phong tục tập quán lạc hậu; (vi) Việc rà soát, thống kê, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của một số cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính (nhất là các đơn vị cơ sở) chưa kịp thời; (vii) Đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và công chức thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính đều là kiêm nhiệm, công việc bị quá tải, nhất là đối với công chức cấp cơ sở….

Từ những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân nêu trên Ủy ban nhân dân tỉnh tỉnh đã có một số đề xuất với Bộ Tư pháp kiến nghị Chính phủ nhanh chóng sửa đổi, bổi sung những quy định không phù hợp, không thống nhất, khả thi tại Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP như đã nêu trên; đồng thời kiến nghị Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ có liên quan (Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính) để sớm giao cho địa phương thêm biên chế theo quy định, đảm bảo nguồn kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vục cho công tác thi hành pháp luật (Theo quy định tại Quyết định số 1950/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ).

Phương Loan

3/17/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhương LoanNhững khó khăn, vướng mắc chủ yếu trong triển khai áp dụng một số  quy định của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP, Nghị định số 97/2017/NĐ-CP/HoatDongAnh/2021-03/08_Key_17032021104407.03_Key_17032021104407.2021_Key_17032021104407.4_Key_17032021104407.jpg
3/17/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Kết quả thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây NinhKết quả thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thực hiện công tác quản lý thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020, ngày từ đầu năm Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND) đã kịp thời ban hành Kế hoạch về công tác quản lý thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (Kế hoạch số 67/KH-UBND ngày 14/01/2020). Trrên cơ sở nhiệm vụ được giao, các sở, ban, ngành tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố đã phối hợp với Sở Tư pháp và các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) theo quy định tại của UBND tỉnh và đạt một số kết quả nổi bật sau:  

Thứ nhất, đối với công tác xây dựng, hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Trong năm 2020, UBND tỉnh không ban hành văn bản quy phạm pháp luật lĩnh vực XLVPHC mà chủ yếu tổ chức triển khai thực hiện các văn bản do cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương ban hành. Tuy nhiên, để các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định về ngư cụ khai thác thủy sản tại Nghị định số 42/2019/NĐ-CP ngày 16/5/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 32/2020/QĐ-UBND ngày 25/8/2020 quy định bổ sung ngư cụ cấm sử dụng để khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Qua đó, đã hoàn thiện quy định về ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản tại địa phương, giải quyết được khó khăn do sự khác biệt về tên gọi của ngư cụ theo tiếng địa phương so với tên gọi tại văn bản của Trung ương. Ngoải ra, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành 01 quyết định hành chính lĩnh vực XLVPHC (Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 27/4/2020 quy định thẩm quyền và cách thức xác định hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có nội dung phức tạp, phạm vi rộng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều cá nhân, tổ chức trên địa bàn tỉnh Tây Ninh).

Thứ hai, đối với công tác kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Ngày 13/7/2020,  Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1456/QĐ-UBND về việc kiểm tra công tác thi hành pháp luật lĩnh vực trọng tâm liên ngành về bảo vệ môi trường và công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi trường năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh (sau đây viết tắt là Quyết định số 1456/QĐ-UBND). Tuy nhiên, do tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp, nhằm hạn chế tụ tập đông người trong các cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh đồng ý thay đổi hình thức kiểm tra từ kiểm tra trực tiếp sang kiểm tra gián tiếp[1]. Theo đó, Đoàn kiểm tra công tác thi hành pháp luật lĩnh vực trọng tâm liên ngành về bảo vệ môi trường và công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi trường năm 2020 sẽ tiến hành kiểm tra thông qua báo cáo của các đơn vị gửi về cho Đoàn Kiểm tra.

Thứ ba, đối với công tác xử phạt vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh. Qua theo dõi cho thấy, tình hình vi phạm hành chính vẫn còn diễn biến phức tạp chủ yếu ở lĩnh vực như: trật tự an toàn giao thông đường bộ, hành vi đánh bạc, trật tự an toàn xã hội, ma túy, đất đai, vệ sinh an toàn thực phẩm, lĩnh vực thương mại… Nguyên nhân chính của tình hình vi phạm là ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao, một số người dân hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đa số là thanh niên thiếu ý thức, trách nhiệm với bản thân và gia đình, có lối sống đua đòi bất chấp pháp luật. Qua thống kê thì kết quả xử phạt vi phạm hành chính năm 2020 thể hiện như sau:

- Tổng số vụ vi phạm: 15.046 (giảm so với cùng kỳ năm 2019 là 113 vụ).

- Tổng số đối tượng bị xử phạt: 21.990 đối tượng (tăng so với cùng kỳ năm 2019 là 3.280 đối tượng).

- Tình hình thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính     

+ Số quyết định xử phạt đã ban hành: 21.861 quyết định

+ Thi hành xong: 13.547 quyết định

- Tổng số tiền phạt thu được: 41.166.420.000 đồng

- Tổng số tiền thu được từ bán tang vật, phương tiện vi phạm và số tiền tịch thu sung quỹ nhà nước: 2.268.316.220 đồng./.

Phương Loan



[1] Công văn số 5620/UBND-NCPC ngày 07/8/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc thay đổi hình thức kiểm tra từ kiểm tra trực tiếp sang kiểm tra gián tiếp

3/17/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhương LoanKết quả thực hiện công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2021-03/08_Key_17032021083758.03_Key_17032021083758.2021_Key_17032021083758.3_Key_17032021083758.jpg
3/17/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Kết quả 08 thực thi các quy định pháp luật về  xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh Kết quả 08 thực thi các quy định pháp luật về  xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tiến hành tổng kết 08 năm thi hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP và Nghị định số 97/2017/NĐ-CP. Qua theo dõi, đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh cho thấy công tác xử lý vi phạm hành chính đã nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo các cơ quan, ban ngành và địa phương. Công tác phối hợp liên ngành dần được quan tâm thực hiện và bước đầu có kết quả tốt, cụ thể như phối hợp kiểm tra liên ngành. Các quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành đa số đều đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định. Nội dung các quyết định phù hợp với quy định pháp luật, ít bị khiếu nại, khởi kiện.


08.03.2021.1.jpg


Kết quả xử lý vi phạm hành chính từ năm 2013 đến năm 2020

Tuy nhiên, tình hình vi phạm hành chính vẫn còn diễn biến phức tạp chủ yếu ở lĩnh vực như: trật tự an toàn giao thông đường bộ, hành vi đánh bạc, trật tự an toàn xã hội, ma túy, đất đai, vệ sinh an toàn thực phẩm, lĩnh vực thương mại… Nguyên nhân chính của tình hình vi phạm là ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân chưa cao, một số người dân hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đa số là thanh niên thiếu ý thức, trách nhiệm với bản thân và gia đình, có lối sống đua đòi bất chấp pháp luật.

Một số lĩnh vực vi phạm chủ yếu: Lĩnh vực lao động; tài chính; kế hoạch và đầu; thương mại; Lĩnh vực xây dựng; giao thông…


08.03.2021.2.jpg


Kết quả thực hiện các quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính

Tình hình áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được UBND các xã, phường, thị trấn tổ chức quản lý và thực hiện nghiêm túc, không có tình trạng khiếu nại, khởi kiện đối với việc lập hồ sơ và ra quyết định áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, việc tổ chức triển khai áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại địa phương gặp không ít khó khăn do có nhiều quy định chưa khả thi. Điều này thể hiện qua số liệu các vụ vi phạm bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, thủ tục để đưa đối tượng đi cai nghiện bắt buộc rườm rà, nhiều thủ tục khó áp dụng. Điều này thể hiện qua số liệu về các vụ vi phạm hành chính bị đề nghị áp dụng các biện pháp hành chính cai nghiện bắt buộc, giáo dục tại xã, phường, thị trấn qua các năm là rất ít so với thực tế.

Phương Loan


3/17/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinPhương LoanKết quả 08 thực thi các quy định pháp luật về  xử lý vi phạm hành chính trên địa bàn tỉnh Tây Ninh /HoatDongAnh/2021-03/08_Key_17032021104744.03_Key_17032021104744.2021_Key_17032021104744.2_Key_17032021104744.jpg
3/17/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bảnLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bản
Tại Kỳ họp thứ 10, ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính - Luật số 67/2020/QH14 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022). Theo đó, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực; thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đối tượng và điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính… đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm thể chế kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cơ bản khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội.

Tại Kỳ họp thứ 10, ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính - Luật số 67/2020/QH14 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022). Theo đó, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực; thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đối tượng và điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính… đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm thể chế kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cơ bản khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội.

1. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật XLVPHC

Luật XLVPHC được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2014. Sau hơn 07 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật XLVPHC đã phát sinh một số vướng mắc, bất cập lớn, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung để bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn, cụ thể:

Một là, đối với quy định chung tại Phần thứ nhất của Luật XLVPHC, những khó khăn, vướng mắc tập trung chủ yếu vào các vấn đề như: Quy định về giải thích từ ngữ "tái phạm" có sự không thống nhất với quy định "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm" của Bộ luật hình sự (BLHS); sự không thống nhất giữa quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 về việc xử lý đối với trường hợp "vi phạm hành chính nhiều lần"; tại Điều 12 Luật XLVPHC quy định về những hành vi bị nghiêm cấm, tuy nhiên, trên thực tế, còn một số hành vi vi phạm thường xảy ra trong quá trình áp dụng pháp luật nhưng chưa được Luật XLVPHC quy định là hành vi bị nghiêm cấm...

Hai là, đối với công tác xử phạt vi phạm hành chính, những khó khăn, vướng mắc chủ yếu tập trung vào các vấn đề như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực còn quá thấp, thiếu tính răn đe; sự thay đổi tên gọi, chức năng, nhiệm vụ của một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến thay đổi về thẩm quyền xử phạt; thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm bị giới hạn bởi thẩm quyền phạt tiền dẫn đến tình trạng dồn quá nhiều vụ việc lên cơ quan cấp trên; thiếu quy định về việc cấp trưởng được giao quyền cho cấp phó trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính; các quy định về thời hạn, thời hiệu thực hiện các công việc chưa phù hợp thực tế; thủ tục thực hiện một số công việc (như lập biên bản vi phạm hành chính, giải trình…) chưa cụ thể; quy định về việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ trong việc phát hiện vi phạm hành chính cũng gặp một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng do phạm vi lĩnh vực được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ còn hạn hẹp, chưa có quy định cụ thể về quy trình "chuyển hóa" kết quả thu được từ các phương tiện, thiết bị do các cá nhân, tổ chức cung cấp thành chứng cứ để xác định vi phạm hành chính; thủ tục xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính còn nhiều bất cập; chưa có quy định về việc hoãn thi hành quyết định phạt, giảm, miễn tiền phạt cho đối tượng vi phạm hành chính là tổ chức, chưa có quy định về thời hạn, thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính…

Ba là, đối với việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính: Việc quy định điều kiện, đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo Luật XLVPHC hiện hành khiến cho việc triển khai công tác này trên thực tế rất hạn chế (đặc biệt là quy định thực hiện hành vi vi phạm "02 lần trở lên trong 06 tháng"); quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với đối tượng nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong một số trường hợp không có sự thống nhất với quy định của BLHS; thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bị kéo dài không cần thiết do đối tượng phải trải qua biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn rườm rà, nhiều quy định chưa thống nhất; một số quy định thiếu tính khả thi; thiếu quy định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người sử dụng trái phép chất ma túy...

Bốn là, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Luật hiện hành cũng gặp nhiều vướng mắc, bất cập, cụ thể là: Việc quy định những trường hợp được áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính quá hạn hẹp; chưa có quy định cụ thể việc thẩm quyền tạm giữ của một chức danh có bị giới hạn bởi thẩm quyền tịch thu của chức danh đó không (trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ có được vượt quá thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện không); thủ tục tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính còn rườm rà, chưa tạo điều kiện cho người có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ trên thực tế…

Năm là, đối với công tác quản lý thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, khó khăn, vướng mắc chủ yếu phát sinh trong công tác báo cáo định kỳ: Việc quy định chế độ báo cáo định kỳ 06 tháng thực tế đã và đang gây nhiều khó khăn cho các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện việc thống kê, tổng hợp báo cáo do quy định mật độ báo cáo định kỳ như vậy là quá dày, trong khi nội dung, yêu cầu báo cáo nhiều, phức tạp.

Bên cạnh đó, thời gian qua, một số Bộ luật, Luật mới được ban hành như: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) - BLHS; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Quản lý ngoại thương năm 2017; Luật Dược năm 2016; Luật Thú y năm 2015; Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015; Pháp lệnh Quản lý thị trường năm 2016; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017; Luật Cạnh tranh năm 2018; Luật Quản lý thuế năm 2019; Luật Chứng khoán năm 2019… đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải rà soát, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định của Luật XLVPHC hiện hành để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.

Xuất phát từ những lý do trên, Chính phủ đã đề xuất Quốc hội đưa dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020 (Nghị quyết số 78/2019/QH14 ngày 11/6/2019 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019) nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý và thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

2. Những điểm mới cơ bản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC

Như đã nêu trên, trong khuôn khổ Chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 13/11/2020 vừa qua, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC với tỷ lệ 92,53% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành và Luật sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC được thông qua đánh dấu một bước phát triển mới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.

Về bố cục, cũng tương tự như các dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC gồm 03 điều, bao gồm:

- Điều 1 - Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC (có 75 khoản);

- Điều 2 - Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 163 của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2014/QH13 và Luật số 23/2018/QH14).

- Điều 3 - Hiệu lực thi hành.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC đã sửa đổi, bổ sung nội dung của 66/142 điều (trong đó 16 điều sửa đổi, bổ sung toàn diện), sửa kỹ thuật 11/142 điều, bổ sung mới 04 điều, bãi bỏ 03 điều của Luật XLVPHC hiện hành, với những điểm mới cơ bản sau đây:

2.1. Về những quy định chung

Luật đã sửa đổi, bổ sung một số quy định chung tại Phần thứ nhất của Luật XLVPHC bao gồm:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 1 Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung khái niệm tái phạm quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật XLVPHC để bảo đảm thống nhất với quy định của BLHS, bảo đảm tính công bằng, khách quan trong áp dụng pháp luật. Theo đó, tái phạm là việc cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đó.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính đối với vi phạm hành chính nhiều lần tại điểm d khoản 1 Điều 3 của Luật XLVPHC [1] theo hướng: Một người thực hiện vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là tình tiết tăng nặng. Quy định này sẽ góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành thời gian qua liên quan đến quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 3 và điểm b khoản 1 Điều 10 Luật XLVPHC hiện hành [2], bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật trên thực tiễn

Thứ ba, sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến thẩm quyền quy định về xử phạt vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Điều 4 Luật XLVPHC [3]:

(i) So với Luật XLVPHC hiện hành, ngoài việc được giao quy định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước; Chính phủ còn được giao quy định hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; đối tượng bị xử phạt; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Quy định này sẽ góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định) xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

(ii) Biểu mẫu sử dụng trong xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

(iii) Giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, căn cứ quy định của Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung một số điểm của khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Luật XLVPHC về thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính [4], theo đó:

(i) Tăng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa đơn lên 02 năm, sửa đổi tên gọi của một số lĩnh vực tại điểm a khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC để bảo đảm thống nhất với Điều 24 Luật XLVPHC, đồng thời, quy định rõ vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

(ii) Sửa đổi quy định về thời hiệu áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 6 Luật XLVPHC;

(iii) Bổ sung quy định về việc tính thời hiệu trong trường hợp cá nhân cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo hướng thời hiệu được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Thứ năm, bổ sung một số hành vi vi phạm thường xảy ra trong quá trình áp dụng pháp luật nhưng chưa được Luật XLVPHC quy định là hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 12 Luật XLVPHC như: Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng; áp dụng mức xử phạt không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính; không theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả. Việc bổ sung quy định này căn cứ vào thực tiễn kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thời gian qua, nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm của người có thẩm quyền, góp phần bảo đảm kỷ luật, kỷ cương trong thi hành công vụ và thực hiện đúng phương châm "Chính phủ kiến tạo".

2.2. Về mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước

So với Luật XLVPHC hiện hành, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC được sửa đổi, bổ sung theo hướng:

(i) Tăng mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực như: Giao thông đường bộ; phòng, chống tệ nạn xã hội; cơ yếu, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia, giáo dục; điện lực; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thủy lợi; báo chí; kinh doanh bất động sản.

Mức phạt tiền tối đa trong Luật sửa đổi, bổ sung lần này được cân nhắc điều chỉnh nâng lên phù hợp với tính chất xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước của một số lĩnh vực, bảo đảm ý nghĩa răn đe và phòng ngừa của chế tài xử phạt vi phạm hành chính, đồng thời để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta.

(ii) Bổ sung quy định mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực như: Tín ngưỡng, đối ngoại; cứu nạn, cứu hộ; in; an toàn thông tin mạng; kiểm toán nhà nước, cản trở hoạt động tố tụng.

(iii) Sửa đổi tên của một số lĩnh vực như: Lĩnh vực sản xuất, kinh doanh giống vật nuôi, cây trồng thành trồng trọt; sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi thành chăn nuôi; dạy nghề thành giáo dục nghề nghiệp; quản lý rừng, lâm sản thành lâm nghiệp; thăm dò, khai thác dầu khí và các loại khoáng sản khác thành hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; hạn chế cạnh tranh thành cạnh tranh…

2.3. Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Thứ nhất, Luật sửa đổi, bổ sung tên gọi/bãi bỏ một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành xuất phát từ việc một số cơ quan, đơn vị được sắp xếp lại tổ chức bộ máy trong thời qua. Ví dụ: một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Quản lý thị trường, Hải quan...

Thứ hai, Luật bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc các lực lượng, cơ quan như: Kiểm ngư (Điều 43a); Ủy ban Cạnh tranh quốc gia (Điều 45a); Kiểm toán nhà nước (Điều 48a)...

Thứ ba, Luật đã chỉnh lý quy định về thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo hướng:

(i) Bên cạnh thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính của các chức danh là cấp cuối cùng của mỗi lực lượng đã được Luật XLVPHC hiện hành quy định, dự thảo Luật bổ sung thêm 08 nhóm chức danh (chủ yếu thuộc các cơ quan được tổ chức theo ngành dọc ở cấp tỉnh hoặc liên tỉnh) có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính không phụ thuộc vào giá trị tang vật, phương tiện [6].

(ii) Các chức danh khác ở cấp cơ sở có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt theo thẩm quyền để vừa tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn thi hành (phát sinh quá nhiều vụ việc vi phạm do trị giá tang vật phương tiện vi phạm vượt quá thẩm quyền phạt tiền nên cơ quan cấp dưới phải chuyển lên cấp trên, dẫn đến tình trạng ùn tắc, quá tải, không thể kịp thời xử lý các hành vi vi phạm bảo đảm đúng về thời hạn và trình tự theo quy định của Luật), vừa bảo đảm quyền lực được kiểm soát và giới hạn, tương xứng với nhiệm vụ được giao.

Thứ tư, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về trường hợp chức danh có sự thay đổi về tên gọi nhưng không có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó được giữ nguyên và trường hợp có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn (tên gọi được giữ nguyên hoặc có sự thay đổi) thì thẩm quyền xử phạt của chức danh đó do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Thứ năm, sửa đổi, bổ sung quy định về giao quyền xử phạt theo hướng cấp trưởng có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Trong thời gian được giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, cấp phó có quyền hạn như cấp trưởng đối với phạm vi được giao, trừ quyền áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính (cấp trưởng chỉ được thực hiện việc giao quyền áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính cho cấp phó trong trường hợp cấp trưởng vắng mặt theo quy định tại Điều 123 của Luật XLVPHC).

2.4. Về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính

So với Luật XLVPHC hiện hành, Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến thủ tục xử phạt theo hướng tăng thời gian tiến hành một số công việc, sửa đổi thủ tục thực hiện một số công việc bảo đảm tính cụ thể, rõ ràng, phù hợp với thực tế, bảo đảm tính khả thi nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật thời gian qua, cụ thể:

Một là, Luật đã sửa đổi, bổ sung các quy định về lập biên bản vi phạm hành chính (Điều 58 Luật XLVPHC) [7]theo hướng quy định nguyên tắc "phải kịp thời lập biên bản" và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định cụ thể về thời hạn lập biên bản để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc hiện nay, bảo đảm phù hợp với từng lĩnh vực quản lý nhà nước; đồng thời, quy định cụ thể về địa điểm lập biên bản, nội dung biên bản và bổ sung quy định về việc lập biên bản vi phạm hành chính qua phương thức điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung này...

Hai làtăng thời hạn định giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính tại khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC [8] từ 24 giờ lên 48 giờ để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tiễn, đồng thời, bảo đảm việc định giá cũng như xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính chính xác.

Ba là, sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp và thủ tục giải trình tại Điều 61 Luật XLVPHC [9] nhằm bảo đảm tính khả thi trên thực tế. Theo đó, đối với hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc quy định mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Về thời hạn giải trình, Luật chỉ sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn đối với trường hợp giải trình bằng văn bản, theo đó, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính từ "trong thời hạn không quá 05 ngày" thành "trong thời hạn 05 ngày làm việc", kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Đồng thời, Luật quy định rõ việc gia hạn của người có thẩm quyền xử phạt phải bằng văn bản. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, Luật sửa quy định về việc người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực tiếp từ "trong thời hạn 05 ngày" thành "trong thời hạn 05 ngày làm việc", kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.

Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Luật đã bổ sung 01 khoản quy định về trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không yêu cầu giải trình nhưng trước khi hết thời hạn lại có yêu cầu giải trình thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm.

Bốn là, sửa đổi, bổ sung Điều 64 Luật XLVPHC [10] theo hướng mở rộng lĩnh vực được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính, bao gồm trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống ma túy, phòng, chống tác hại của rượu, bia và lĩnh vực khác do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội...

Năm là,  Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hết thời hiệu thi hành, thời hiệu cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo hướng:

(i) Người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 65 Luật XLVPHC, nhưng vẫn phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật, phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.

(ii) Đối với trường hợp hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật XLVPHC) thì không thi hành quyết định đó nữa, nhưng vẫn phải tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nếu quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả.

(iii) Đối với trường hợp hết thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế (quy định tại khoản 2a Điều 88 Luật XLVPHC) thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó, nhưng vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong trường hợp quyết định xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

Sáu là, Luật sửa đổi, bổ sung quy định về thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 66 Luật XLVPHC [11] để khắc phục những vướng mắc, bất cập phát sinh thời gian qua như: Hầu hết các bộ, ngành địa phương đều cho rằng, thời hạn ra quyết định xử phạt theo quy định của Luật XLVPHC hiện hành (07 ngày) là quá ngắn, không bảo đảm tính khả thi, không phù hợp với thực tiễn, gây nhiều khó khăn cho người có thẩm quyền xử phạt. Quy định về việc gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính gặp rất nhiều vướng mắc (đặc biệt là tiêu chí xác định thế nào là thủ trưởng cấp trên trực tiếp thực hiện việc gia hạn), gây khó khăn cho người có thẩm quyền xử phạt, dẫn đến tình trạng có rất nhiều trường hợp bị quá thời hạn ra quyết định xử phạt, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính.

Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung Điều 66 Luật XLVPHC theo hướng:

(i) Đối với vụ việc vi phạm hành chính thông thường thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

(ii) Riêng đối với vụ việc mà cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan quy định tại Điều 59 của Luật XLVPHC thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính. Đối với vụ việc thuộc trường hợp cá nhân, tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.

Việc bỏ quy định về thủ tục gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt góp phần giảm thiểu thủ tục hành chính, bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính được nhanh chóng, thuận lợi, kịp thời hơn, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính nói riêng và quản lý nhà nước nói chung.

2.5. Về thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

So với Luật XLVPHC hiện hành, Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung quy định về hoãn, miễn, giảm tiền phạt tại Điều 76 và Điều 77 Luật XLVPHC theo hướng bổ sung quy định tổ chức cũng được hoãn, giảm, miễn tiền phạt để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho tổ chức/doanh nghiệp khi gặp khó khăn  đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh…[12], cụ thể như sau:

Thứ nhất, việc hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:

(i) Cá nhân bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng trở lên, tổ chức bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên.

(ii) Cá nhân đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn; tổ chức đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh. Tùy từng trường hợp cụ thể, cá nhân, tổ chức phải có xác nhận của các cơ quan, tổ chức sau: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện trở lên; Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Thứ hai, việc giảm một phần tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền được áp dụng khi:

(i) Cá nhân tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc.

(ii) Tổ chức tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Thứ ba, Luật bổ sung quy định tổ chức cũng được miễn phần tiền phạt còn lại và miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt bên cạnh quy định miễn tiền phạt cho cá nhân như Luật XLVPHC hiện hành.

Tuy nhiên, để được miễn phần tiền phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt, tổ chức phải đáp ứng đủ các điều kiện, bao gồm:

(i) Đã được giảm một phần tiền phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này.

(ii) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

(iii) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

Tổ chức được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ các điều kiện:

(i) Đã được hoãn thi hành quyết định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này.

(ii) Đã thi hành xong hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt.

(iii) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

2.6. Về đối tượng, điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về đối tượng và điều kiện áp dụng các biện pháp xử lý hành chính:

Luật số 67/2020/QH14 đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến đối tượng và điều kiện áp dụng các biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ với BLHS; quy định về độ tuổi, số lần vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính... bảo đảm phù hợp với thực tiễn, bảo đảm tính khả thi, cụ thể:

- Quy định cụ thể các hành vi vi phạm là điều kiện để áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Làm rõ hơn quy định "02 lần trở lên trong 06 tháng", thống nhất trong cách áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm "02 lần trong 06 tháng" là điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để bảo đảm tính khả thi;

- Bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người sử dụng trái phép chất ma túy (người từ đủ 14 tuổi trở lên đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy);

- Bỏ quy định áp dụng biện pháp "tiền đề" giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định; đồng thời, sửa đổi quy định về đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo hướng viện dẫn đến quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhằm tránh phát sinh xung đột giữa hai Luật.  

Thứ hai, Luật số 67/2020/QH14 cũng đã sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nhằm đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn tối đa các mốc thời gian thực hiện các công việc. Trong đó, đáng chú ý nhất là việc sửa đổi các quy định tại khoản 1 Điều 98, khoản 3 Điều 99, khoản 3 Điều 101 và khoản 3 Điều 103 Luật XLVPHC liên quan đến thủ tục kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo hướng:

(i) Không quy định việc kiểm tra tính pháp lý thành một thủ tục riêng biệt, độc lập;

(ii) Không quy định thẩm quyền kiểm tra tính pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện đối với hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thay vào đó, dự thảo Luật quy định rõ, cơ quan nào lập hồ sơ đề nghị thì phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của hồ sơ.

Thứ ba, Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung quy định về quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Điều 131 Luật XLVPHC theo hướng:

(i) Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có nơi cư trú ổn định, cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định giao cho gia đình quản lý đối tượng trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

(ii) Đối với người không có nơi cư trú ổn định hoặc có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý thì cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định: Giao cho trung tâm, cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội hoặc cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản lý đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người vi phạm cư trú hoặc có hành vi vi phạm tổ chức quản lý trong trường hợp bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

2.7.  Bên cạnh những vấn đề nêu trên, Luật số 67/2020/QH14 cũng sửa đổi, bổ sung quy định về các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính như: Bổ sung trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính tại Điều 122 Luật XLVPHC [13]; sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính tại Điều 123 Luật XLVPHC [14]; sửa đổi quy định về biện pháp tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề tại Điều 125 Luật XLVPHC [15]; sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu tại Điều 126 Luật XLVPHC [16]; bãi bỏ quy định về việc báo cáo công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính định kỳ 06 tháng tại Điều 17 Luật XLVPHC nhằm giảm bớt thủ tục và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị trực tiếp thực hiện việc thống kê, tổng hợp báo cáo; bổ sung biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính giáo dục dựa vào cộng đồng (Điều 140a) áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính...

Lời kết

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng của quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đây cũng là một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, liên quan đời sống hàng ngày của nhân dân được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm. Do đó, cần phải được tổ chức phổ biến, quán triệt và thực hiện một cách hiệu quả Luật, đặc biệt là những điểm mới, những thay đổi của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC so với Luật hiện hành, góp phần đảm bảo trật tự, kỷ cương hành chính; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội; đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đáp ứng yêu cầu cải cách bộ máy nhà nước; đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm hành chính trong giai đoạn hiện nay./.

Nguồn: Bộ Tư pháp

https://xlvphc.moj.gov.vn/qt/tintuc/pages/trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=134

3/15/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính - Những điểm mới cơ bản/HoatDongAnh/2021-03/PDF_Key_15032021082346.jpg
Tại Kỳ họp thứ 10, ngày 13/11/2020, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính - Luật số 67/2020/QH14 (có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022). Theo đó, nhiều nội dung cơ bản, quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Luật XLVPHC) như: Mức phạt tiền tối đa trong một số lĩnh vực; thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính; thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; đối tượng và điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính… đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm thể chế kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, đồng thời, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính cơ bản khắc phục những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế xã hội.
3/15/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
1 - 30Next