Tin tức - Tin Luật sư
 
-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ.          Theo đó các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp trong đó có hoạt động luật sư được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế toàn bộ các quy định xử phạt vi phạm ...
 
​Tới nay, tôi từng hành nghề luật sư qua hai thể chế, ngót một phần ba thế kỷ thăng trầm. Đối với luật sư, tiếp cận chứng cứ vụ án là rất quan trọng, là căn cứ bênh vực khách hàng. Thường thì thân chủ muốn rằng yêu cầu mà họ đề ra được đáp ứng. Luật sư chân chính không thể chiều theo tất cả đòi hỏi của thân chủ mà cần tôn trọng sự thật khách quan phù hợp quy định pháp luật. Luật sư chịu thử ...
 
​Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2019/TT-BTP). Thông tư số 02/2019/TT-BTP có hiểu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nghĩa vụ tham ...
 
​Thực hiện Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Nghị định 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và ...
 
​Ngày 17 tháng 5  năm 2019 Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh tổ chức Đại hội toàn thể luật sư  nhiệm kỳ 2018 - 2023 với sự tham dự của 59/65 luật sư của Đoàn. Đại hội toàn thể luật sư tỉnh Tây Ninh đã vinh dự được đón tiếp Ls.Ts Phan Trung Hoài,  Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam; Ông Nguyễn Thanh Ngọc – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh ...
 
Ngày 08/10/2018 chính phủ đã ban hành nghị định số 137/2018/NĐ- CP sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật luật sư. Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 25/11/2018.Theo đó, tại Khoản 4 Điều 1 của Nghị định số 137/2018/NĐ-CP sửa đổi quy định tại Điều 20 của Nghị định số ...
 
​ Ngày 23 tháng 4 năm 2019 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 940/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án tổ chức Đại hội và phương án xây dựng nhân sự bầu vào Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng – Kỷ luật Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh lần thứ VII, nhiệm kỳ (2018-2023). Theo đó, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã giao Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm khẩn trương tổ chức Đại ...
 
​Ngày 03 tháng 5 năm 2019, Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh có cấp lại Giấy đăng ký hoạt động số 45.06.0044/TP/ĐKHĐ, ngày cấp lần đầu 15/9/2015 cho Chi nhánh Tây Ninh - Công ty luật TNHH Quốc Tế An Phú do thay đổi Trưởng chi nhánh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật luật sư, Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh cung cấp thông tin thay đổi Trưởng chi nhánh của Chi nhánh Tây Ninh - Công ty luật TNHH Quốc Tế An ...
 
​Ngày 15/3/2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư. Thông tư có 05 chương và 21 điều và có hiệu lực kể từ ngày 05/5/2019. Thông tư này quy định về đối tượng, thời gian, hình thức, nội dung bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; trách nhiệm của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã ...
 
​Thực hiện Quyết định số 377/QĐ-STP ngày 25/02/2019 của Giám đốc Sở Tư pháp về việc thanh tra chuyên ngành về tổ chức, hoạt động luật sư của tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019 của Sở Tư pháp. Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra theo Kế hoạch số 07/KH-ĐTTr ngày 25/02/2019 tại Công ty luật TNHH MTV Bảo Pháp vào ngày 14/3/2018, Văn phòng Luật sư Trần Minh Tuấn vào ngày ...
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

* Người có tài sản đấu giá: Công ty Điện lực Tây Ninh.


- Tài sản thanh lý vật tư thiết bị phế liệu, ứ đọng, chậm luân chuyển, tiêu chuẩn kỹ thuật cũ và cáp vụn lẻ đợt 01 năm 2021.

- Giá khởi điểm: 5.777.750.000 đồng. Tiền đặt trước: 870.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm), bản sao giấy CMND, Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đúng ngành nghề.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 13/8/2021 (thứ sáu). Xem tài sản trực tiếp từ ngày 22/7/2021 đến ngày hết hạn, tại nơi có tài sản.

- Tổ chức đấu giá: 14 giờ 30 phút, ngày 16/8/2021 (thứ hai).

- Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

 Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


7/14/2021 5:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-07/hinh dau gia 3_Key_14072021162250.jpg
7/14/2021 5:00 PMNoĐã ban hành
Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuếQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2020/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế (viết tắt là Nghị định số 100/2020/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Theo đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế.

Về đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế được quy định tại Điều 3 Nghị định số 100/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

- Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

- Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa; khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế; khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.

- Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

Bên cạnh đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP cũng quy định rõ chính sách đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế có liên quan.

Đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế gồm: đồng Việt Nam; đồng USD, euro; đồng tiền của nước có chung biên giới đất liền với địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới; đồng tiền của quốc gia nơi các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thực hiện nhập cảnh, quá cảnh tại quốc gia đó.

                                                                                                    KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc03_Key_03112020143313.11_Key_03112020143313.2020_Key_03112020143313.1_Key_03112020143313.png
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tậtChính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật
Nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; nâng cao nhận thức của cộng đồng về các quyền của người khuyết tật; tăng cường năng lực trợ giúp pháp lý và hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, ngày 04/02/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch năm 2013 Triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.

 

Theo đó, Kế hoạch được triển khai với 04 nội dung chủ yếu, gồm: Tăng cường hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; Tăng cường năng lực thực hiện trgiúp pháp lý cho người khuyết tật; Thực hiện tr giúp pháp lý cho người khuyết tật; Kiểm tra, đánh giá, báo cáo việc triển khai thực hiện Kế hoạch

Đối với hoạt động truyền thông, Sở Tư pháp chủ trì phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Tây Ninh xây dựng nội dung trợ giúp pháp lý cho người khuyết tt trong chuyên mục chung về trợ giúp pháp lý trên Đài Truyền thanh huyện, thị xã, Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, Báo Tây Ninh, Tờ tin Tư pháp Tây Ninh; In ấn, phát hành các tờ gấp, cẩm nang pháp luật… truyền thông về trợ giúp pháp lý và quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật; Xây dựng và lắp đặt Bảng thông tin và Hộp tin về trợ giúp pháp lý tại trụ sở Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh; Lồng ghép việc truyền thông, phbiến pháp luật và trgiúp pháp lý cho người khuyết tật, tuyên truyền về quyền được trợ giúp pháp lý và các quyền, nghĩa vụ khác của người khuyết tật tại các đợt TGPL lưu động.

Để tăng cường năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý, Sở Tư pháp xây dựng tài liệu, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ cộng tác viên, thành viên các Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý.

Trung tâm Trợ giúp pháp lý chủ động phối hợp Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh khảo sát nhu cầu trợ giúp pháp lý của người khuyết tật. Thực hiện Trợ giúp pháp lý (tư vấn pháp luật, tham gia ttụng, đại diện ngoài tố tụng và các hình thức trợ giúp pháp lý khác) cho người khuyết tật tại trụ sở Trung tâm, Chi nhánh của Trung tâm khi có yêu cầu. Tăng cường trợ giúp pháp lý lưu động, tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động tại các xã, phường, thị trn nơi có nhiều người khuyết tật; tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội, Trường Khuyết tật tỉnh Tây Ninh và Hội Người mù tỉnh Tây Ninh.

Sở Tư pháp có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội và các cơ quan có liên quan giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh trong việc triển khai thực hiện Kế hoạch. Thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá, đề xuất, kiến nghị việc thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật và báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch này ở địa phương. Tổ chức sơ kết, tổng hợp và báo cáo Bộ Tư pháp hoạt động triển khai thực hiện Kế hoạch.

Sở Lao động Thương binh và xã hội có trách nhiệm cung cấp danh sách người khuyết tật cư trú trên địa bàn tỉnh, địa chỉ nơi có nhiều người khuyết tật sinh sống, làm việc cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý. Phối hợp với Trung tâm Trợ giúp pháp lý khảo sát nhu cầu TGPL của người khuyết tật. Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình thường xuyên tuyên truyền phổ biến chính sách TGPL cho người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật, kịp thời phát hiện và giới thiệu đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý những người khuyết tật có nhu cầu được trợ gúp pháp lý.

Trên cơ sở dự toán kinh phí của Sở Tư pháp, Sở Tài chính có trách nhiệm tham mưu UBND tỉnh cấp để tổ chức thực hiện.

Báo Tây Ninh, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm tăng cường việc tuyên truyền, phổ biến chính sách trợ giúp pháp lý của nhà nước cho người khuyết tật, kịp thời phản ánh với Sở Tư pháp và các cơ quan chức năng có liên quan những trường hợp người khuyết tật có nhu cầu được trợ giúp pháp lý./.

                                                                                Ngọc Linh

 

4/17/2013 4:40 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lý(None)Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật; nâng cao nhận thức của cộng đồng về các quyền của người khuyết tật; tăng cường năng lực trợ giúp pháp lý và hiệu quả thực hiện trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, ngày 04/02/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch năm 2013 Triển khai thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.
4/17/2013 4:40 PMNoĐã ban hành
Quy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sưQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2019/TT-BTP). Thông tư số 02/2019/TT-BTP có hiểu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư.

Thông tư số 02/2019/TT-BTP có 5 chương, 21 điều, cụ thể: Chương I: quy định chung gồm 02 điều, từ Điều 1 đến Điều 2; Chương II: Thực hiện bồi dưỡng gồm 06 điều, từ Điều 3 đến Điều 8; Chương III: Quyền, trách nhiệm thực hiện bồi dưỡng và các mẫu giấy tờ kèm theo gồm 07 điều, từ Điều 9 đền Điều 15; Chương IV: Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo gốm 04 điều, từ Điều 16 đến Điều 19; Chương V: Tổ chức thực hiện gồm 02 điều, từ Điều 20 đến Điều 21. Sau đây là một vài nội dung cơ bản của Thông tư số 02/2019/TT-BTP.

Theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP, tùy vào yêu cầu bồi dưỡng bắt buộc hàng năm, nội dung bồi dưỡng bao gồm một hoặc một số nội dung sau:

- Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư;

- Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật;

- Kỹ năng hành nghề luật sư và kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động hành nghề luật sư;

- Kỹ năng quản trị tổ chức hành nghề luật sư.

Việc bồi dưỡng được tổ chức dưới hình thức khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư.

Đồng thời, tại Điều 5 Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định thời gian tham gia bồi dưỡng tối thiểu là 8 giờ/năm. Ngoài ra, Luật sư được tính quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng trong năm đó khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Viết bài nghiên cứu pháp luật được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước hoặc nước ngoài; viết sách, giáo trình được xuất bản về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư hoặc kỹ năng hành nghề luật sư;

- Tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật, cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia giảng dạy các khóa bồi dưỡng hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư theo quy định của Thông tư này;

- Tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo chức danh tư pháp;

- Tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài;

- Tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm từ 01 ngày trở lên về các nội dung theo quy định tại Điều 3 của Thông tư này do Sở Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức.

Luật sư tham gia bồi dưỡng được quy đổi trong các trường hợp nêu trên thì 01 lần tham gia và hoàn thành được tính bằng 08 giờ thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng.

Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định rõ các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm cụ thể như sau:

- Luật sư đang làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Nữ luật sư có con dưới 12 tháng tuổi được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm;

- Luật sư vì lý do bệnh tật có đơn đề nghị và được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư xác nhận;

- Luật sư từ đủ 70 tuổi trở lên và có trên 20 năm hành nghề luật sư;

- Luật sư phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh và thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên có Giấy chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Như vậy, Thông tư số 02/2019/TT-BTP đã quy định cụ thể, chi tiết nội dung, hình thức, thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc cũng như các trường hợp được quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc và các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, . . . đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ của Luật sư theo quy định của pháp luật./.

 

Phòng Bổ trợ Tư pháp

7/30/2019 8:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinBTTPQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư/HoatDongAnh/2019-07/bttpngay30_Key_30072019073426.07_Key_30072019073426.2019_Key_30072019073426.png
7/30/2019 8:00 AMYesĐã ban hành
Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện

Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

 

Ngày 22/06/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật số 80/2015/QH13 - Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế cho Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 ra đời (gọi tắt là Luật), có sự kế thừa và phát triển việc áp dụng thống nhất trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nói chung và của địa phương nói riêng. Để công tác văn bản ở địa phương được áp dụng thống nhất, Sở Tư pháp giới thiệu về quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh như sau:

I. Xây dựng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Quy trình, hồ sơ xây dựng ban hành Nghị quyết của HĐND được quy định tại Chương VIII, gồm 16 điều (từ Điều 111 đến Điều 126) của Luật.

Về quy trình, nhìn chung không có thay đổi nhiều, gồm 4 bước cơ bản sau:

Bước 1. Lập đề nghị và thông qua đề nghị xây dựng Nghị quyết HĐND tỉnh do UBND tỉnh là cơ quan đề nghị

1. UBND tỉnh tự mình hoặc theo đề xuất của các sở, ban, ngành trực thuộc đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND.

2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết

a) Đối với Nghị quyết quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên (quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật) thì hồ sơ thực hiện theo khoản 2 Điều 117 của Luật gồm có:

- Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết;

- Bản thuyết minh về căn cứ ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; nội dung chính của nghị quyết; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

b) Riêng đối với việc xây dựng nghị quyết thuộc các trường hợp tại Khoản 2, 3, 4 Điều 27 của Luật quy định về: Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương thì cơ quan lập đề nghị phải thực hiện thêm các bước quy định tại các Điều 112 đến Điều 116 của Luật. Cụ thể:

- Cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 112 của Luật như tổng kết hoặc đánh giá các văn bản QPPL liên quan; tổ chức nghiên cứu thông tin tư liệu, điều ước quốc tế liên quan; xây dựng nội dung của chính sách, đánh giá tác động của chính sách; chuẩn bị hồ sơ đề nghị, lấy ý kiến về hồ sơ đề nghị, …

- Việc lấy ý kiến được thực hiện theo Điều 113 của Luật. Cụ thể: Đăng tải toàn bộ hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để nhân dân tham gia ý kiến, đồng thời lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, thời gian để các đơn vị góp ý không ít hơn 10 ngày, …

- Ngoài ra, căn cứ Điều 10 của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết phải:

+ Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của đến cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan, cơ quan, tổ chức khác có liên quan để lấy ý kiến;

+ Gửi hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh;

+ Hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đến Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để lấy ý kiến;

+ Trong trường hợp cần thiết có thể tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật;

+ Nghiên cứu ý kiến góp ý để hoàn thiện đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến phải được đăng tải cùng với các tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh và Trang thông tin điện tử của cơ quan lập đề nghị.

Sau khi kết thúc thời gian lấy ý kiến, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết tổng hợp và tiếp thu ý kiến; gửi Sở Tư pháp thẩm định (thời gian thẩm định là 15 ngày); Cơ quan lập đề nghị là UBND tỉnh giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định hoàn thiện hồ sơ.

Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 117 của Luật gồm:

+ Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết; mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; mục tiêu, nội dung chính sách trong dự thảo nghị quyết và các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.

+ Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do lựa chọn; xác định vấn đề giới và tác động giới của chính sách.

+ Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách.

+ Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; bản chụp ý kiến góp ý.

+ Đề cương dự thảo nghị quyết.

+ Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp.

+ Quyết định thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 116 của Luật này.

+ Tài liệu khác (nếu có).

- UBND cấp tỉnh xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị quyết (UBND tỉnh tổ chức phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng nghị quyết)

- Đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh gửi đến thường trực HĐND tỉnh để xem xét, quyết định. Nếu chấp thuận thì phân công cơ quan tổ chức trình (UBND tỉnh) trình dự thảo Nghị quyết và quyết định thời hạn trình HĐND tỉnh dự thảo nghị quyết; UBND tỉnh sẽ  phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.

Bước 2. Soạn thảo và lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết (Điều 120 của Luật)

Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức xây dựng dự thảo phải chủ động phối hợp để đăng tải các tài liệu về dự thảo lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh ít nhất là 30 để lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức và những cơ quan, tổ chức; cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.

Bước 3. Thẩm định, trình UBND tỉnh quyết định trình dự thảo Nghị quyết, thẩm tra dự thảo nghị quyết

1. Thẩm định

Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật  gửi Sở Tư pháp thẩm định chậm nhất là 20 ngày trước ngày UBND tỉnh họp quyết định việc trình dự thảo Nghị quyết lên HĐND tỉnh.

Sở Tư pháp tiến hành thẩm định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định và gửi báo cáo cho cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình UBND tỉnh.

2. Trình UBND tỉnh quyết định trình dự thảo nghị quyết

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ dự thảo theo quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật đến UBND tỉnh để chuyển đến các thành viên của UBND tỉnh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày UBND tỉnh họp.

Tại phiên họp, UBND tỉnh có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số quyết định việc trình dự thảo nghị quyết ra HĐND tỉnh.

2. Thẩm tra

Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND, UBND tỉnh trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết (thành phần hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 124 của Luật) đến Ban của HĐND được phân công thẩm tra để thẩm tra. Ban có trách nhiệm thẩm tra phải gửi báo cáo thẩm tra đến Thường trực HĐND chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của HĐND.

Bước 4. Thông qua dự thảo Nghị quyết HĐND tỉnh

Thường trực HĐND tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi đến đại biểu HĐND tỉnh chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp của HĐND (thành phần hồ sơ gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật).

Tại kỳ họp của HĐND tỉnh tiến hành việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết theo trình tự quy định tại Điều 126 của Luật.

              vbqpplvban.jpg

II. Quyết định của UBND tỉnh

Quy trình, hồ sơ xây dựng ban hành quyết định của UBND tỉnh được quy định tại Chương IX gồm 6 điều (từ Điều 127 tới Điều 132) của Luật, gồm 4 bước cơ bản sau:

Bước 1. Lập đề nghị xây dựng Quyết định

Quy định cụ thể cơ quan, cá nhân sau có quyền và trách nhiệm đề nghị xây dựng Quyết định của UBND tỉnh: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và Chủ tịch UBND cấp huyện.

Văn phòng UBND tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh để quyết định và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.

Bước 2. Soạn thảo và lấy ý kiến dự thảo              

Cơ quan đề nghị cũng là cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 128 của Luật.

Lấy ý kiến dự thảo thực hiện theo quy định tại Điều 129 viện dẫn áp dụng theo Điều 120 của Luật và tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo.

Bước 3. Thẩm định

Cơ quan chủ trì soạn thảo chuẩn bị hồ sơ thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều 121 của Luật gửi Sở Tư pháp. Sở Tư pháp tiến hành thẩm định trong 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định. Báo cáo thẩm định gửi cho cơ quan chủ trì soạn thảo.

Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự thảo (Hồ sơ dự thảo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật) trước khi trình UBND tỉnh quyết định (đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình).

Bước 4. Trình, thông qua dự thảo và ký ban hành

Cơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo đến UBND tỉnh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày UBND họp để chuyển đến các thành viên UBND tỉnh.

Tại phiên họp của UBND tỉnh thì việc thông qua, ký ban hành thực hiện theo Điều 132 của Luật.

 

III. Về xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn

Điều 146 Luật năm 2015 quy định các trường hợp được xây dựng, ban hành văn bản QPPL theo trình tự thủ tục rút gọn, gồm 05 trường hợp sau: (1) Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; (2) Trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; (3) Trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội; (4) Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định; (5) Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

Quy định cụ thể, rõ ràng hơn trình tự, thủ tục xây dựng, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn (Điều 148, Điều 149 Luật năm 2015). Ví dụ: nếu tổ chức lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không quá hai mươi ngày; việc thẩm định, thẩm tra phải được tiến hành trong thời hạn bảy ngày làm việc kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản; quy trình xem xét, thông qua được thực hiện theo trình tự tương ứng với trình tự xem xét, thông qua văn bản đó.

            Trên đây là quy trình xây dựng văn bản QPPL của HĐND tỉnh, UBND tỉnh theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, hy vọng sẽ cung cấp cho những cán bộ, công chức tham gia vào quá trình soạn thảo văn bản QPPL có một cái nhìn khái quát về quy trình cũng như điểm mới của quy trình xây dựng văn bản QPPL của chính quyền địa phương cấp tỉnh./.

 

                                                          

9/24/2018 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinVăn phòngQuy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một điều và biện /HoatDongAnh/2018-09/vbqpplvban_Key_27092018082651.jpg
9/24/2018 3:00 PMYesĐã ban hành
Những điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020Những điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020

Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020 được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022. Luật này có nhiều điểm mới đáng chú ý. Theo đó, Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung có 9 điểm mới như sau:

1. Tăng mức phạt tiền tối đa của nhiều lĩnh vực

Tại Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 đã tăng mức phạt của một số lĩnh vực, gồm:

- Giao thông đường bộ; phòng, chống tệ nạn xã hội tăng từ 40 triệu lên 75 triệu đồng;

- Cơ yếu, giáo dục; quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia từ 50 triệu lên 75 triệu đồng;

- Điện lực: từ 50 triệu lên 100 triệu đồng;

- Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: từ 100 triệu lên 200 triệu đồng;

- Báo chí: từ 100 triệu lên 250 triệu đồng;

- Kinh doanh bất động sản từ 150 triệu lên 500 triệu đồng.

2. Bổ sung quy định mức phạt tiền tối đa của một số lĩnh vực: Các lĩnh vực này gồm:

- Tín ngưỡng; đối ngoại: 30 triệu đồng;

- Cứu nạn, cứu hộ: 50 triệu đồng;

- In; an toàn thông tin mạng: 100 triệu đồng;

- Sở hữu trí tuệ: 250 triệu đồng...

3. Bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt

Bổ sung thẩm quyền của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự, Trưởng Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Cảnh sát cơ động, Thủy đoàn trưởng, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Đội trưởng Đội đặc nhiệm Phòng chống ma túy và tội phạm thuộc Bộ đội Biên phòng…

4. Tăng thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Thời hạn ra quyết định xử phạt theo Luật năm 2012 bao gồm cả thứ 7, chủ nhất, ngày nghỉ lễ, tết nên thời gian rất ngắn, gây khó khăn cho người xử phạt nhất là lập biên bản vào ngày cuối tuần, nghỉ lễ, tết.

Vì thế, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2020 đã sửa đổi theo hướng từ tính ngày sang ngày làm việc và tăng thời hạn xử phạt đối với trường hợp phải chuyển hồ sơ, cụ thể:

- Đối với vụ việc thông thường, thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;

- Đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình hoặc phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản;

Đối với vụ việc thuộc trường hợp phải giải trình hoặc xác định giá trị tang vật… mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản.

5. Thay đổi thời hiệu xử phạt một số lĩnh vực

Trước đây, chỉ  hành vi trốn thuế, gian lận thuế, nộp chậm tiền thuế, khai thiếu nghĩa vụ thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về thuế. Tuy nhiên, theo Luật mới, tất cả vi phạm hành chính về thuế thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

6. Bổ sung trường hợp phải tạm giữ người theo thủ tục hành chính

Theo đó, việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;

- Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

- Để thi hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình;

- Để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

Thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành chính ở khu vực biên giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ được tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.

Đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng nghiện ma túy thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm.

7. Nơi lập biên bản vi phạm hành chính

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2020 đã quy định cụ thể địa điểm lập biên bản vi phạm hành chính là phải nơi xảy ra vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Trước đây, Luật năm 2012 không quy định lập biên bản ở đâu, nhưng tại Nghị định 97/2017/NĐ-CP hướng dẫn cách ghi biên bản là ở nơi xảy ra vi phạm hoặc trụ sở làm việc.

Về nội dung biên bản: Luật 2020 bổ sung quy định biên bản phải mô tả vụ việc, hành vi vi phạm...

Chuyển biên bản vi phạm hành chính trong trường hợp không thuộc thẩm quyền của người lập biên bản: Luật đã quy định cụ thể trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa, người lập biên bản phải chuyển biên bản đến người có thẩm quyền xử phạt (trước đây chỉ quy định chuyển ngay, không ghi rõ thời gian là bao lâu).

Bổ sung quy định về sửa chữa sai sót biên bản vi phạm hành chính: Luật 2020 bổ sung quy định: Trường hợp biên bản vi phạm hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung thì tiến hành xác minh tình tiết vi phạm.
8. Trường hợp hoãn thi hành quyết định phạt tiền

Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định chỉ cá nhân bị phạt tiền từ 03 triệu đồng trở lên mới được hoãn, tổ chức không được hoãn thi hành quyết định phạt tiền. Tuy nhiên, Luật mới đã đã sửa đổi, bổ sung thêm tổ chức được hoãn tiền phạt như sau:

- Cá nhân bị phạt tiền từ 02 triệu đồng trở lên; tổ chức bị phạt tiền từ 100 triệu đồng trở lên;

- Bổ sung trường hợp cá nhân mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh tuyến huyện trở lên.

- Đối với tổ chức đang gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp  hoặc cơ quan cấp trên trực tiếp.

9. Bổ sung trường hợp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt

Luật sửa đổi 2020 đã bổ sung trường hợp cưỡng chế khi cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả./.

Thanh tra Sở


8/30/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThanh TraNhững điểm mới của Luật xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/30/2021 9:00 AMNoĐã ban hành
Thông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại ĐaklakThông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại Đaklak

1. Tài sản của Công an tỉnh Tây Ninh

- Đấu giá kết quả đầu tư và chuyển nhượng quyền trồng, chăm sóc, khai thác cây cao su, cây keo, cây tếch trên diện tích 200 ha đất tại xã EaBung, huyện EaSup, tỉnh Đăklăk. Thời gian đầu tư quyền khai thác trồng và chăm sóc cây đến ngày 23/9/2061.

- Giá khởi điểm: 16.062.300.000 đồng.

- Tiền đặt trước: 2.400.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2. Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

3. Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND và Giấy phép kinh doanh, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản.

4. Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 20/12/2017 (thứ tư).

5. Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 22/12/2017 (thứ sáu).

6. Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

7. Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có tài sản.

Các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký tham gia đấu giá xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

12/1/2017 4:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo đấu giá chuyển nhượng quyền trồng và chăm sóc cây cao su, cây keo, cây tếch tại Đaklak/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
12/1/2017 4:00 PMNoĐã ban hành
Tình người nơi pháp đìnhTình người nơi pháp đình

Gia đình là nơi hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ em để mai sau thành những công dân sống có ích cho xã hội, là nơi rèn giũa để các em phát triển lành mạnh theo năm tháng. Nhưng hiện nay, vấn đề ly hôn, ly thân, bỏ bê con cái đang diển ra ngày càng nhiều, đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc gia tăng tội phạm vị thành niên, là ghánh nặng cho cộng đồng và kéo theo những hệ lụy liên quan đến tệ nạn xã hội gia tăng đáng báo động.

Như vụ án "Trộm cắp tài sản" được Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vào sáng ngày 14/5/2020 cũng xuất phát từ việc gia đình, cha mẹ thiếu quan tâm dẫn đến con mình sinh ra lâm vào hoàn cảnh trộm cắp. Pháp luật tuy có tính chất nghiêm khắc, giáo dục tội phạm nhưng kết thúc bằng bản án thể hiện tính nhân văn sâu sắc tại chốn pháp đình.

Theo cáo trạng của VKSND huyện Gò Dầu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Hùng vào khoảng 22 giờ, ngày 20/9/2019, tại khu vực thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn Cường do thiếu nợ của Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng, không có tiền trả đã nảy sinh ý định lấy trộm 01 cây bông trang dạng bonsai trị giá 11.300.000 đồng của anh Nguyễn Nguyên Bảo Thắng.

Khi được Hội đồng xét xử thẩm tra về lý lịch, bị cáo Nguyễn Văn Cường, sinh năm 2003 khai báo về hoàn cảnh gia đình, từ lúc sinh ra cho đến tận ngày hôm nay bị cáo không hề biết gì về mẹ ruột, bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ không có vòng tay che chở, lơi ấm từ mẹ. Sống cùng với cha, mưu sinh bằng nhiều nghề làm mướn, lang thang rày đây mai đó, không có có nơi ở cố định.

Cha bị cáo có lúc cũng chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ. Đến năm bị cáo được khoảng 15 tuổi thì cha bị cáo tiếp tục sống chung với một người phụ nữ, mẹ kế quá khắt khe, thường xuyên đánh đập, hành hạ, không thể chung sống được nên bị cáo bỏ nhà đi sống lang thang tại khu vực huyện Trảng Bàng bằng nghề chăn vịt, chăn bò cho người khác để kiếm cơm hàng ngày không được đến trường như bao đứa trẻ khác. Đến tối ngủ trong chòi vịt, chuồng bò, nghe mà quá xót xa cho thân phận của một đứa trẻ ở tuổi ăn học, tổi mới lớn.

Bị cáo Nguyễn Văn Cường là người bị buộc tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh phân công Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa trong phiên tòa xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

Dẫu biết rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên xét về nguyên nhân cũng như hoàn cảnh, điều kiện tác động đến hành vi phạm tội thì thấy rằng bị cáo đáng thương hơn đáng trách. Cũng vì sống lang thang, không có nơi ở cố định, thiếu thốn về vật chất, em Cường có mượn của anh Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng để mua thức ăn. Sau đó, em Cường mới nảy sinh ý định đi trộm cây bông trang để trả nợ 200.000 đồng cho anh Hùng. Nên sau đó, em đã đi đến nhà của anh Thắng trộm cắp cây bông trang rồi đem đến trả cho anh Hùng để trừ nợ, có 200.000 đồng nhưng đánh đổi lại một hình phạt tù thật sự không đáng.

Trong thời kỳ Nhà nước ta đang phổ cập giáo dục cho công dân thì với độ tuổi của bị cáo Cường tính đến ngày xét xử đã hơn 17 như thế tối thiểu cũng có thể đọc và viết được tên của mình nhưng bị cáo Cường không hề biết một mặt chữ nào, không biết đọc, không biết viết, đó là một sự thiệt thòi rất lớn đối với bị cáo, thể hiện sự thiếu quan tâm của cha mẹ, trách nhiệm của gia đình, của xã hội.

Trước khi mở phiên tòa, cha ruột của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, từ chối hẳn trách nhiệm của bậc làm cha đối với chính núm ruột của mình, từ chối hẳn đứa con mà mình phải có nghĩa vụ cưu mang. Những người trong phòng xử án đều có cái nhìn cảm thương cho số phận của em, không biết cuộc đời em sau này sẽ như thế nào. Nhìn sâu trong ánh mắt của em làm cho mỗi người đều cảm thấy nhói lòng, em trả lời sống những ngày trong Nhà Tạm giữ hình như có cái ăn, cái mặc hơn là bên ngoài, có người trò chuyện cùng, có cán bộ quản giáo chăm sóc mà từ trước giờ em chưa được hưởng cảm giác của tình yêu thương.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý đã trình bày trước Hội đồng xét xử, thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã áp dụng  nhưng cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh đáng thương của bị cáo như đã phân tích trên đây quyết định cho bị cáo một mức án phù hợp.

Hội đồng xét xử cân nhắc hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình, nhân thân, cân nhắc lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý quyết định cho bị cáo Cường hưởng mức án tù bằng thời hạn tạm giam, tạm giữ là 04 tháng 09 ngày, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Tôi nhìn thấy ánh mắt của em sáng lên niềm vui tột cùng, hạnh phúc đong đầy nhưng ẩn chứa một nỗi lo sau này đối với cuộc sống mưu sinh.

Phiên tòa kết thúc với bản án sâu đậm tình người vừa có sức thuyết phục sâu sắc những người tham dự.

                                                              Ngọc Linh

5/21/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTình người nơi pháp đình/HoatDongAnh/2020-05/21_Key_21052020082816.5_Key_21052020082816.2020_Key_21052020082816.png
5/21/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnhTây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh

​Để tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa phát lại và Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Ngày 29/7/2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 2004/QĐ-UBND về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định "Thừa phát lại" trên địa bàn tỉnh.

Kế hoạch đã xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, cơ chế phối hợp, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc triển khai thi hành chế định Thừa phát lại, bảo đảm thống nhất và hiệu quả; đồng thời nâng cao hiểu biết và tiếp cận của người dân đối với dịch vụ Thừa phát lại.

        Theo đó, nội dung trọng tâm của Kế hoạch là tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chế định Thừa phát lại và nội dung Nghị quyết số 107/2015/QH13, Quyết định số 101/QĐ-TTg ngày 14/01/2016 và các văn bản liên quan bằng các hình thức phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của đơn vị, địa phương và đối tượng; bổ sung chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về thừa phát lại; tập huấn chuyên sâu về chế định Thừa phát lại; xây dựng Đề án triển khai thực hiện chế định Thừa phát lại trên địa bàn tỉnh; xây dựng Quy chế phối hợp giữa Sở Tư pháp với Tòa án nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh và Cục Thi hành án dân sự tỉnh  trong việc thực hiện chế định Thừa phát lại; tổ chức kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời xử lý, chấn chỉnh, khắc phục những vi phạm trong tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; đồng thời tiến tới tổ chức tổng kết, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 trên địa bàn tỉnh dự kiến vào năm 2017; giao Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Đề án thực hiện chế định Thừa phát lại tại tỉnhTây Ninh; trên cơ sở phê duyệt của Bộ Tư pháp, tham mưu UBND tỉnh tổ chức triển khai thi hành trên địa bàn tỉnh.

 Sở Tư pháp là đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc các sở, ngành và các cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai thực hiện Kế hoạch này tại địa phương

                        Kim Huệ

8/25/2016 11:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinBTTPTây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện chế định thừa phát lại trên địa bàn tỉnh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
8/25/2016 11:00 AMYesĐã ban hành
Yêu nghề-nghề yêuYêu nghề-nghề yêu

Tới nay, tôi từng hành nghề luật sư qua hai thể chế, ngót một phần ba thế kỷ thăng trầm. Đối với luật sư, tiếp cận chứng cứ vụ án là rất quan trọng, là căn cứ bênh vực khách hàng. Thường thì thân chủ muốn rằng yêu cầu mà họ đề ra được đáp ứng. Luật sư chân chính không thể chiều theo tất cả đòi hỏi của thân chủ mà cần tôn trọng sự thật khách quan phù hợp quy định pháp luật.

Luật sư chịu thử thách, gian truân. Có dư luận cho rằng luật sư phải làm dâu trăm họ (đáp ứng yêu cầu của thân chủ, các cơ quan tiến hành tố tụng, công luận…). Nhiệm vụ của luật sư là bảo vệ công lý. Trải nghiệm thách thức nhưng "lửa thử vàng, gian nan thử sức".

Bản thân tôi cũng như các luật sư đồng nghiệp mong đợi luật pháp nước nhà cần thay đổi, điều chỉnh phù hợp với thực tế cuộc sống. Bên cạnh đó, luật sư cần cập nhật kiến thức pháp luật, hội nhập với khu vực và thế giới.

Nghị quyết 08 ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49 ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, đã mở đường để luật sư thực hiện hiệu quả vai trò "phụ tá công lý".

Trong hoạt động nghề nghiệp, tôi không bao giờ làm ngơ trước sự "áp chế pháp lý" của cán bộ cơ quan tiến hành tố tụng. Tôi là luật sư bào chữa cho bị cáo T.T.N và bị cáo N.N.C bị Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử về hành vi "lừa đảo…", "lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố gọi điện thoại chúc mừng tôi đã bào chữa thành công cho bị cáo N và bị cáo C. Phiên tòa diễn ra chừng 45 phút, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án hội ý. Tôi chủ động đến gặp, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận các bị hại tự nguyện miễn, giảm số tiền mà các bị cáo chiếm dụng của các bị hại. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của luật sư, hướng dẫn thư ký lập biên bản nội dung sự việc để làm căn cứ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo…

Ở vụ án khác, với tư cách luật sư bào chữa cho thân chủ, tôi kịp thời phản ứng khi những người tiến hành tố tụng tại phiên xử thiếu khách quan trong quá trình hoạt động tố tụng. Tại phiên tòa của tòa án quận, chủ tọa muốn chứng tỏ quyền lực, gây sức ép đối với luật sư khi luật sư tranh luận với đại diện viện kiểm sát bằng cách: sẽ yêu cầu Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam kỷ luật tôi vì không chấp hành việc chủ tọa muốn luật sư không đối đáp, tranh luận với kiểm sát viên nữa. Tôi phản đối! Thẩm phán chủ tọa lên tiếng tại phiên tòa: Sẽ đề nghị Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam kỷ luật luật sư. Tôi lập tức "trả miếng": Luật sư sẽ đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kỷ luật chủ tọa phiên tòa này. Có lẽ nhận ra việc hành xử không thích hợp, Thẩm phán chủ tọa đã "dĩ hòa vi quý" khi gặp tôi rút lại lời vừa "dọa"…

Luật sư tôn trọng hội đồng xét xử, nhưng cương quyết không khoan nhượng.

Tại một phiên tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao (nay là tòa án nhân dân cấp cao) tại TP. Hồ Chí Minh, thẩm phán "cánh gà" phát biểu: Yêu cầu luật sư nêu ngắn gọn. Tôi lên tiếng: Theo quy định của pháp luật, chủ tọa là người điều khiển phiên tòa, thẩm phán "cánh gà" không được điều khiển phiên tòa, cản trở hoạt động của luật sư. Tôi đề nghị chủ tọa chấn chỉnh thẩm phán "cánh gà". Chủ tọa lưu ý thẩm phán "cánh gà" không được gây khó khăn đối với luật sư. Phóng viên báo chí và người tham dự phiên tòa bày tỏ sự đồng tình với luật sư.

Là luật sư, tôi mong các đồng nghiệp, nhất là các luật sư mới vào nghề cần sự bình tĩnh, ôn hòa nhưng phải có lập trường khi làm nhiệm vụ. Trong mọi hoàn cảnh, luật sư phải bản lĩnh, "uy vũ bất năng khuất"!

Luật sư chân chính luôn thể hiện sự chính trực, giữ gìn sự liêm khiết trí thức, toàn tâm toàn ý phục vụ công lý.

Nghề "thầy cãi" là nghề cao quý. Tôi tin tưởng các đồng nghiệp luôn được xã hội quý trọng.

Tôi thiết tha mong muốn giới luật sư vượt qua thử thách, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc.

                                                                  Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam


8/10/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinPhòng XD&KTVBQPPLYêu nghề-nghề yêu/HoatDongAnh/2020-08/luatsu10_Key_10082020090010.8_Key_10082020090010.2020_Key_10082020090010.jpg
8/10/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nayVai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay

Theo khoản 1 - Điều 2 Luật công chứng năm 2014: "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng".

          Công chứng là hoạt động dịch vụ công đặc biệt phục vụ và tạo ra những bảo đảm, an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp dân sự góp phần bảo đảm trật tự kinh tế - xã hội. Hiện nay, hoạt động công chứng của nước ta phát triển nhanh chóng, cho thấy sự phát triển của kinh tế xã hội, khi nhu cầu giao kết dân sự của người dân càng tăng cao.  Luật Công chứng năm 2014 cũng có quy định rõ về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: "Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác"

          Theo quy định của pháp luật hiện hành: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai". Do vậy, việc có một trình tự ghi nhận tính hợp pháp (công chứng) các giao dịch liên quan đến đất đai (ở đây là quyền sử dụng đất) nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai của cơ quan nhà nước là việc làm cần thiết. Thực tế cho thấy, trong một thời gian rất dài, công tác quản lý đất đai của chúng ta vẫn chưa tốt, còn có nhiều giao dịch về quyền sử dụng đất phát sinh trong Nhân dân mà không được công chứng, chứng thực. Hiện tượng mua đi bán lại bất động sản bằng giấy tay khá phổ biến, đối tượng của giao dịch cũng đa dạng, từ đất ở, đất vườn đến đất nông nghiệp, lâm nghiệp đều có thể được chuyển nhượng. Điều đó làm cho Nhà nước thất thu thuế, các cơ quan nhà nước gặp nhiều khó khăn trong quản lý, Tòa án khó khăn khi giải quyết tranh chấp. Vì vậy, công chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch về quyền sử dụng đất, thể hiện ở một số điểm sau:

          + Công chứng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp của nội dung các giao dịch. Trên thực tế thì cũng còn có một số ít người dân có sự hiểu biết rõ ràng các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất. Việc công chứng sẽ giúp cho các bên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong giao dịch về quyền sử dụng đất qua việc tư vấn, giải thích của các tổ chức hành nghề công chứng, cụ thể là của công chứng viên.

          + Việc công chứng còn góp phần hạn chế các giao dịch không có thật, góp phần hạn chế các yếu tố lừa đảo, lừa dối trong các giao dịch về quyền sử dụng đất, nhất là trong các trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập di chúc, giải quyết về thừa kế.... Ví dụ: với sự tham gia của công chứng, các vấn đề như lừa dối trong khi lập di chúc: cưỡng ép người có quyền sử dụng đất lập di chúc giao giao quyền sử dụng đất cho một người nào đó.

          + Việc công chứng sẽ nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ (theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng giao dịch được công chứng không phải chứng minh) khi có tranh chấp. Rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp, các bên tham gia giao dịch phải đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án sẽ dễ xem xét và chấp nhận hơn nếu các giao dịch đó đã được công chứng.

          Trên đây là một số vai trò quan trọng của hoạt động công chứng trong việc giao dịch về đất đai trong xã hội hiện nay./.

 

Yến Linh - Công chứng số 1 đưa tin


11/26/2020 5:00 PMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC1Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay/HoatDongAnh/2020-11/cc1_Key_26112020161338.26_Key_26112020161338.11_Key_26112020161338.2020_Key_26112020161338.jpg
11/26/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Thông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây NinhThông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây Ninh

TRUNG TÂM DỊCH VỤ ĐẤU GIÁ TÀI SẢN TỈNH TÂY NINH

THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ


Tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước gồm 01 máy đào bánh xích và 01 chiếc xe mô tô bán phụ tùng của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 231.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 35.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000 đồng.

- Đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy CMND, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản.

Thời gian đăng ký và tham khảo mua hồ sơ từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 07/3/2018 (thứ tư).

Tổ chức đấu giá: 09 giờ 00 phút, ngày 09/3/2018 (thứ sáu).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Xem tài sản trực tiếp 02 ngày: 05&06/3/2018, tại nơi có tài sản đấu giá.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; Tầng 4 - số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


2/27/2018 2:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinVăn phòngThông báo đấu giá tài sản tịch thu sung quỹ của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Tây Ninh/HoatDongAnh/2018-05/tbdg_Key_08052018085115.jpg
2/27/2018 2:00 PMNoĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019

Chiều ngày 05/3/2019, tại Hội trường Sở Nội vụ tỉnh Tây Ninh, Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp tỉnh Tây Ninh đã tổ chức Hội nghị tổng kết phong trào thi đua năm 2018 và  ký kết giao ước thi đua Khối thi đua năm 2019. Đến dự và chỉ đạo Hội nghị, về phía Hội đồng thi đua, khen thưởng tỉnh có bà Phan Thị Điệp, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng thi đua, khen thưởng tỉnh; Lãnh đạo 07 Sở ngành Văn phòng Đoàn Đại biểu quốc hội - HĐND - UBND tỉnh; Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Ngoại vụ, Thanh tra tỉnh. Về phía Sở Tư pháp, có ông Võ Xuân Biên - Phó Giám đốc phụ trách Sở tham dự.


12.3.2019.vp.jpg

Hội nghị tổng kết phong trào thi đua năm 2018 và  ký kết giao ước thi đua

Khối thi đua năm 2019

Hội nghị đã thông qua báo cáo tổng kết phong trào thi đua, khen thưởng năm 2018 và phương phướng, nhiệm vụ năm 2019 của Khối thi đua; đồng thời thông qua các báo cáo tham luận, giới thiệu điển hình tiên tiến năm 2018 của Sở Tài chính, Thanh tra tỉnh…Tại Hội nghị, Sở Nội vụ - Khối trưởng khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp tỉnh Tây Ninh năm 2018 thông báo kết thúc nhiệm vụ và trao cờ Luân lưu Khối trưởng Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp năm 2019 cho Sở Tư pháp và Khối phó là Sở Ngoại vụ.


12.3.2019.vp.1.jpg

Ông Võ Xuân Biên – Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp nhận cờ luân lưu khối trưởng năm 2019 Khối thi đua Tham mưu – Tổng hợp

Để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, thi đua lập thành tích xuất sắc trong năm 2019, với vai trò Khối trưởng Khối thi đua, ông Võ Xuân Biên- Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp đã phát động phong trào thi đua trong toàn khối, đồng thời tổ chức ký kết thi đua giữa các thành viên để Khối thi đua tiếp tục thúc đẩy phong trào thi đua của Khối sôi động hơn, hiệu quả hơn.

12.3.2019.vp.2.jpg

07 Lãnh đạo các sở, ngành thành viên Khối Thi đua ký kết giao ước thi đua năm 2019

(Đắc Hiển)

3/12/2019 12:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh nhận cờ luân lưu khối trưởng Khối thi đua tham mưu – tổng hợp năm 2019/HoatDongAnh/2019-03/12_Key_12032019111439.3_Key_12032019111439.2019_Key_12032019111439.vp_Key_12032019111439.1_Key_12032019111439.jpg
3/12/2019 12:00 PMYesĐã ban hành
Quy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa ánQuy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa án


Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 16/6/ 2020 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, trong đó quy định về hoạt động hòa giải và đối thoại tại Tòa án.

Theo đó, hòa giải, đối thoại được thực hiện trước khi tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.

Cụ thể, hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này. Đối thoại tại Tòa án là hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.

Như vậy, đối với vụ việc dân sự thì tiến hành theo cách thức hòa giải; đối với vụ án hành chính thì tiến hành theo cách thức đối thoại. Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án; khuyến khích những người đủ điều kiện theo quy định của Luật này làm Hòa giải viên và tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án.  Đây là những nội dung mới được ghi nhận tại luật này mà trước đó chưa có, là chế định mới, có tính độc lập, không áp dụng đối với hoạt động hòa giải, đối thoại đã được luật khác quy định.

Các bên tham gia hòa giải, đối thoại phải đảm bảo các nguyên tắc: tự nguyện hòa giải, đối thoại; tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ; bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định pháp luật; phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc.

Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật. Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này họ có thể tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình. Người tham gia hòa giải, đối thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng được coi là người phiên dịch. Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.

Ngoài ra, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án cũng quy định những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại bao gồm: Yêu cầu đòi bồi thường do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; vụ việc phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội; người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được vì có lý do chính đáng; một bên vợ hoặc chồng trong tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự; một trong các bên đề nghị không tiến hành hòa giải, đối thoại; một trong các bên yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính; trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được công nhận khi có đủ các điều kiện: Các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các bên là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất; nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; trường hợp các bên thuận tình ly hôn thì thỏa thuận của các bên phải có đầy đủ nội dung về việc ly hôn, việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải, đối thoại thì thỏa thuận, thống nhất chỉ được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ. Trường hợp các bên thỏa thuận, thống nhất được một phần tranh chấp dân sự, một phần khiếu kiện hành chính thì chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận, thống nhất không liên quan đến các phần khác của tranh chấp, khiếu kiện đó.

Sau khi lập biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhận được biên bản và tài liệu kèm theo.

Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án thì quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành có thể bị xem xét lại theo đề nghị của các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà họ không thực hiện được quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề nghị.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án./.

                                                                          Ngọc Linh

 


4/28/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinNgọc LinhQuy định về hòa giải, đối thoại tại Tòa án/HoatDongAnh/2021-04/1_Key_28042021090706.2021_Key_28042021090706.28_Key_28042021090706.4_Key_28042021090706.TGPLNNTTN_Key_28042021090706.png
4/28/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh

Ngày 01/7/2021 Hội đồng nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ban hành Nghị quyết số 06/2021/NQ-HĐND quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Theo đó, mức thu, các trường hợp miễn phí và chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí được quy định cụ thể như sau:

Mức thu phí

1. Phí đăng ký biện pháp bảo đảm

a) Đăng ký biện pháp bảo đảm: 80.000 đồng/trường hợp;

b) Đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm: 30.000 đồng/trường hợp;

c) Đăng ký thay đổi nội dung biện pháp bảo đảm đã đăng ký: 60.000 đồng/trường hợp;

d) Xóa đăng ký biện pháp bảo đảm: 20.000 đồng/trường hợp,

đ) Cấp bản sao văn bản chứng nhận nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm: 25.000 đồng/trường hợp.

2. Phí cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm: 30.000 đồng/trường hợp.

Những trường hợp miễn phí

1. Các cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng thuộc một trong các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định tại Điều 4, Điều 9 Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và khoản 3, 4 Điều 1 Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/8/2018 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

2. Yêu cầu sửa chữa sai sót về nội dung đăng ký biện pháp bảo đảm do lỗi của người thực hiện dịch vụ đăng ký.

3. Thông báo việc kê biên tài sản thi hành án, yêu cầu thay đổi nội dung đã thông báo việc kê biên tài sản thi hành án, xóa thông báo việc kê biên của Chấp hành viên theo quy định của pháp luật thi hành án.

4. Chấp hành viên yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản kê biên.

5. Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động tố tụng.

Chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí

Cơ quan thu phí được trích lại 80% tổng số tiền phí thu được để chi các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 120/2016/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phí và lệ phí;

Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Tây Ninh thông qua tại kỳ họp thứ nhất, khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2026, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11/7/2021.

Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp


7/23/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinKim HuệTây Ninh ban hành Nghị quyết quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý, sử dụng phí đăng ký, cung cấp thông tin về biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh /HoatDongAnh/2021-07/hue22_Key_23072021141406.1_Key_23072021141406.2021_Key_23072021141406.2_Key_23072021141406.jpg
7/23/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây NinhKênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh

Nhằm hỗ trợ công tác phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh, từ 07 giờ ngày 26/7/2021 (thứ Hai), Sở Thông tin và Truyền thông triển khai chính thức các kênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh như sau:

Kênh hỗ trợ người dân về dịch bệnh Covid-19

1. "Kênh tiếp nhận thông tin, tư vấn về tình hình sức khỏe". Gọi 0276.1022, bấm phím 1. Thông tin tiếp nhận:

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân trong các khu cách ly, phong toả.

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân khi cách ly y tế tại nhà, tự theo dõi sức khoẻ tại nhà.

- Thông tin phản ánh về tình hình sức khoẻ của người dân khi có liên quan đến dịch tễ như F1, F2, nghi ngờ mắc Covid-19.

* Cách thức thực hiện:

- Bước 1: Người dân gọi vào số 0276 1022. Người dân nghe câu chào: Tổng đài 1022 tỉnh Tây Ninh kính chào. Ông/bà vui lòng bấm phím 0 để gặp điện thoại viên, bấm phím 1 để phản ánh về tình trạng sức khoẻ, bấm phím 2 để phản ánh về việc hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch covid-19.

- Bước 2: Người dân bấm phím 1 thì nghe câu thoại hướng dẫn nhập phím để chuyển đến trung tâm y tế cấp huyện tương ứng: Người dân nghe câu hướng dẫn: Kênh tiếp nhận phản ánh tình trạng sức khoẻ kính chào. Ông/bà tiếp tục bấm phím 1 nếu ở Bến Cầu, phím 2 nếu ở Gò Dầu, phím 3 nếu ở Dương Minh Châu; phím 4 nếu ở Châu Thành, phím 5 nếu ở Trảng bàng, phím 6 nếu ở Thành phố Tây Ninh, phím 7 nếu ở Hòa Thành, phím 8 nếu ở Tân Châu, phím 9 nếu ở Tân Biên, phím 0 để gặp Tổng đài viên. Hệ thống sẽ chuyển cuộc gọi của người dân đến các số điện thoại là lãnh đạo các Trung tâm y tế huyện, thị, thành phố tương ứng (danh sách số điện thoại mỗi đơn vị gồm 02 số sẽ luân phiên nhận cuộc gọi, kèm danh sách bên dưới)

2. "Kênh tiếp nhận và xử lý thông tin hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19". Gọi 0276.1022, bấm phím 2. Thông tin tiếp nhận

- Thông tin về bản thân, gia đình hoặc hàng xóm, những người xung quanh có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương cần được hỗ trợ nhu yếu phẩm.

- Thông tin về bản thân hoặc gia đình người dân thuộc đối tượng bị tác động, ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 được hưởng chính sách hỗ trợ theo quy định của Trung ương và Tây Ninh nhưng chưa nhận được hỗ trợ. - Thông tin về các trường hợp khác trong xã hội cần hỗ trợ (người già neo đơn, trẻ cơ nhỡ,…)

* Cách thức thực hiện:

- Bước 1: Người dân gọi vào số 0276 1022. Người dân nghe câu chào: Tổng đài 1022 tỉnh Tây Ninh kính chào. Ông/bà vui lòng bấm phím 0 để gặp điện thoại viên, bấm phím 1 để phản ánh về tình trạng sức khoẻ, bấm phím 2 để phản ánh về việc hỗ trợ gặp khó khăn do đại dịch covid-19.

- Bước 2: Người dân bấm phím 2 thì cuộc gọi chuyển đến số Tổng đài viên trực để tiếp nhận thông tin (trong giờ hành chính); Ngoài giờ hành chính thì cuộc gọi được ghi lại để điện thoại viên xem lại và chuyển xử lý. Thông tin nhận được sẽ được Trung tâm GSĐH tập trung của tỉnh chuyển đến UBND các huyện, thị xã, thành phố, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội xử lý, hỗ trợ người dân trong thời gian nhanh nhất.


DANH SÁCH SỐ ĐIỆN THOẠI ĐƯỜNG DÂY NÓNG TIẾP NHẬN PHẢN ÁNH PHÒNG CHỐNG DỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TÂY NINH

1022.29.7.2021.nia.1.jpg


1022.29.7.2021.nia.2.jpg


1022.29.7.2021.nia.3.jpg

1022.29.7.2021.nia.4.jpg

1022.29.7.2021.nia.5.jpg

1022.29.7.2021.nia.6.jpg

7/29/2021 5:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinNiaKênh tiếp nhận thông tin phản ánh về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên Tổng đài 1022 của tỉnh Tây Ninh/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
7/29/2021 5:00 PMYesĐã ban hành
Hướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây NinhHướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh

MAU QR dang ky diem kiem dich SO TU PHAP 80x150cm.png

Các cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp khi đến liên hệ công tác tại Sở Tư pháp Tây Ninh vui lòng thực hiện chức năng quét mã "QRCode" thực hiện việc khai báo.

Bước 1: Cán bộ, công chức, viên chức, người dân, doanh nghiệp cần thực hiện việc cài đặt ứng dụng "Bluezone" trên CH Play/AppStore vào điện thoại thông minh.

Bước 2: Khai báo y tế trước khi quét mã "QRCode" để xác nhận điểm đến và đi tại nơi đăng ký điểm kiểm dịch.

Bước 3: Thực hiện quét mã "QRCode" trên ứng dụng "Bluezone" thực hiện như sau:

- Trên màn hình thiết bị di động đã cài ứng dụng "Bluezone" chọn biểu tượng có tên Bluezone

bluzone.jpg

  • Khi ứng dụng Bluezone đã khởi động tiến hành nhấn nút tiện ích 
  • bluzone1.jpg


Cuối cùng nhấn vào biểu tượng "Khai báo y tế" và gửi thông tin theo yêu cầu, sau đó chọn "Quét mã check-in" để tiến hành quét mã QR Code hướng camera điện thoại vào Mã QR CODE được dán tại các đơn vị.


6/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinBích HiềnHướng dẫn khai báo y tế bằng cách quét mã QR tại Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2021-06/MAU QR dang ky diem kiem dich SO TU PHAP 80x150cm_Key_03062021142711.png
6/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tếHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế

Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp hướng tới đạt mục tiêu năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp, năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp và năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị TW 5 Khóa XII, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 35, Nghị quyết số 19 năm 2016 - 2017 - 2018, Nghị quyết số 02 năm 2019 về cải thiện môi trường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó đưa ra các giải pháp đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều địa phương đã duy trì và nâng cao chất lượng cơ chế đối thoại chính sách để tháo gỡ khó khăn về chính sách liên quan đến lao động, đất đai, vốn, thuế, hải quan...

Tuy nhiên, năng lực nội tại của các DNNVV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: đa số các DNNVV có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động sản xuất còn nhỏ lẻ manh mún; thiếu vắng sự liên kết, đặc biệt liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa và lớn; năng xuất trong khu vực DNNVV thấp, năng lực cạnh tranh, thích nghi với thị trường còn yếu; máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu...

Từ góc nhìn của tổ chức đại diện doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy, mặc dù cơ chế chính sách đã được ban hành nhiều, tương đối đầy đủ, nhưng chậm được triển khai đã làm mất đi tính cơ hội, lạc hậu so với tình hình thực tiễn, nên phải điều chỉnh bổ sung nhiều đã làm ảnh hưởng đến khu vực doanh nghiệp dân doanh. Bên cạnh đó, một số các cấp chính quyền địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra chính sách, nguồn lực cụ thể để triển khai, mặc dù cơ chế đã có.

Để các quy định của Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thực sự được triển khai trên thực tế, đi vào cuộc sống, trong phạm vi bài viết, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Phải xác định hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là một hoạt động cơ bản, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp, các ngành. Hoạt động này xuất phát từ bối cảnh thực tế hiện nay, khi nhận thức pháp luật của khu vực kinh tế dân doanh còn nhiều hạn chế, chủ sở hữu, người quản lý trong doanh nghiệp chưa hình thành thói quen tuân thủ pháp luật, chế tài xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm minh, chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, thực thi pháp luật chưa đạt hiệu quả.

Thứ hai: Nhu cầu hỗ trợ pháp lý và tư vấn pháp luật của khu vực DNNVV rất nhiều, phong phú và đa dạng, điều này, xuất phát từ quyền tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp. Trong khi đó, nguồn lực Nhà nước lại có hạn, hỗ trợ pháp lý chỉ là một hoạt động trong tổng thể các hoạt động hỗ trợ DNNVV. Để tránh lãnh phí, tràn lan, nhưng không đem lại hiệu quả thiết thực, Nhà nước cần xác định rõ các nội dung, hoạt động nào Nhà nước hỗ trợ, nội dung, hoạt động nào doanh nghiệp phải thực hiện thuê dịch vụ pháp lý để phòng ngừa rủi ro theo quy luật của thị trường.

Thứ ba: Trong khi cơ cấu, tổ chức, cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong các cơ quan Nhà nước hiện nay chưa ổn định, sự quan tâm của các cấp chính quyền chưa đồng đều, Nghị định 55/2019/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP đã quy định về cơ chế thiết lập mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ cho DNNVV. Vì vậy, các bộ ngành, địa phương cần sớm triển khai cơ chế này, đây có thể được coi là một cơ chế hữu hiệu để triển khai các hoạt động hỗ trợ cho DNNVV một cách hiệu quả. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy, Nhà nước cần chủ động hướng dẫn, xây dựng tiêu chí, công nhận tư cách của mạng lưới, bố trí kinh phí để duy trì, khuyến khích bồi dưỡng, giám sát, kiểm tra mạng lưới tư vấn viên. Đây cũng được coi là cơ chế để đội ngũ luật sư, luật gia tham gia sâu rộng vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Thứ tư: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, những thành quả của kỹ thuật số vào trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV. Thực tế, những người quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp rất bận. Vì vậy, những cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo phương thức truyền thống cần có sự thay đổi mạnh mẽ, nắm sát đặc điểm tâm lý, đặc thù của doanh nghiệp, chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ năm: Cần có phân loại, phân nhóm các loại hình DNNVV để có các chuyên đề, chương trình hỗ trợ cho phù hợp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất, chế biến, chế tạo có nhu cầu hỗ trợ khác với doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thương mại dịch vụ.

Thứ sáu: Cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung, công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV nói riêng. Thực tế cho thấy, để thay đổi thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV, chúng ta phải nhìn tổng thể để có các giải pháp thay đổi trên các bình diện về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, ý thức phục vụ của tổ chức, cá nhân thừa hành công vụ, tính nghiêm minh bình đẳng của thi hành pháp luật./.

                                                                     Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam 


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103622.8_Key_25082020103622.2020_Key_25082020103622.2_Key_25082020103622.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng

Ngày 24/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/2021/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng. Theo Nghị định này, các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, bao gồm các chế độ sau:

- Bảo hiểm y tế;

- Điều dưỡng phục hồi sức khỏe;

- Hỗ trợ phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết;

- Hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;

- Hỗ trợ thăm viếng mộ liệt sĩ;

- Hỗ trợ di chuyển hài cốt liệt sĩ;

- Hỗ trợ công tác mộ liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ;

- Xác định danh tính hài cốt liệt sĩ;

- Các chế độ ưu đãi khác như: Trợ cấp mai táng; trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; chi tiền ăn thêm ngày lễ, tết đối với thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên...

Nghị định số 75/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2021./.

                                                                                          Ngọc Giàu

8/4/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinNgọc Giàu  Các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng/HoatDongAnh/2021-08/4_Key_04082021094424.huongdantochucthuchien_Key_04082021094424.png
8/4/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Hướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèoHướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo

Ngày 16/7/2021, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Quyết định số 24/2021/QĐ-TTg quy định quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm và quy trình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022-2025. Trên cơ sở Quyết định này, ngày 18/7/2021, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH hướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo; xác định thu nhập của hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025 và mẫu biểu báo cáo.

Theo đó, phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Quyết định 24/2021/QĐ-TTg thực hiện như sau:

1. Khảo sát thu thập thông tin của hộ gia đình, tính điểm, tổng hợp điểm theo Phụ lục III và Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH để ước lượng thu nhập và xác định mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo, hộ cận nghèo như sau:

- Về mức thu nhập bình quân đầu người (gọi là điểm A): ở khu vực nông thôn, 140 điểm tương đương với mức thu nhập bình quân đầu người 1.500.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị, 175 điểm tương đương với mức thu nhập bình quân đầu người 2.000.000 đồng/người/tháng.

- Về mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (gọi là điểm B): 10 điểm tương đương với 01 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

2. Phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo:

+ Hộ nghèo: hộ có điểm A ≤ 140 điểm và điểm B ≥ 30 điểm ở khu vực nông thôn hoặc có điểm A ≤ 175 điểm và điểm B ≥ 30 điểm ở khu vực thành thị;

+ Hộ cận nghèo: hộ có điểm A ≤ 140 điểm và điểm B < 30 điểm ở khu vực nông thôn hoặc có điểm A ≤ 175 điểm và điểm B < 30 điểm ở khu vực thành thị.

Thông tư số 07/2021/TT-BLĐTBXH có hiệu lực từ ngày 01/9/2021./.

                                                                                          Ngọc Giàu

8/4/2021 10:00 AMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinNgọc GiàuHướng dẫn phương pháp rà soát, phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo/HoatDongAnh/2021-08/3_Key_04082021093859.huongdantochucthuchien_Key_04082021093859.png
8/4/2021 10:00 AMYesĐã ban hành
Lễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư phápLễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp

Chiều ngày 29/7/2021, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp. Đến tham dự buổi lễ có Đảng ủy, Ban Giám đốc Sở Tư pháp và các đồng chí đại diện các đoàn thể, lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở.

thanhnien2021_3_17.1.jpg

 

Ông Phạm Văn Đặng - Giám đốc Sở Tư pháp trao Quyết định

nghỉ hưu cho bà Nguyễn Thị Kim Hương

 

Tại buổi lễ, ông Phạm Văn Đặng - Giám đốc Sở Tư pháp trao Quyết định số 1017/QĐ-STP ngày 29/4/2021 của Sở Tư pháp về việc việc nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, phát biểu ghi nhận, biểu dương và cảm ơn bà Nguyễn Thị Kim Hương vì đã có nhiều đóng góp đối với sự nghiệp phát triển của ngành tư pháp nói chung và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói riêng. Giám đốc Sở Tư pháp đề nghị bà Nguyễn Thị Kim Hương sau khi nghỉ hưu với năng lực, kinh nghiệm của mình sẽ tiếp tục theo dõi, đồng hành, tham gia đóng góp xây dựng địa phương và ngành tư pháp tỉnh nhà, nhất là trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.


thanhnien2021_3_17.2.jpgthanhnien2021_3_17.3.jpg

Ban Giám đốc Sở Tư pháp chụp hình lưu niệm cùng bà Nguyễn Thị Kim Hương

Trước sự quan tâm của lãnh đạo lãnh đạo Sở Tư pháp và đồng nghiệp cơ quan, bà Nguyễn Thị Kim Hương xúc động phát biểu lời cảm ơn chân thành đến lãnh đạo Ban Giám đốc Sở Tư pháp và công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở đã gắn kết, phối hợp, hỗ trợ và giúp đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời chúc các đồng chí đương nhiệm tiếp tục cống hiến, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao phó. Riêng về phần mình, đồng chí hứa sẽ tiếp tục gắn kết, tham gia, đóng góp công sức vào việc xây dựng ngành Tư pháp địa phương ngày càng phát triển.


thanhnien2021_3_17.4.jpg

Bà Nguyễn Thị Kim Hương phát biểu tại buổi Lễ

 

(Đắc Hiển)


8/5/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinĐắc HiểnLễ trao Quyết định nghỉ hưu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội đối với bà Nguyễn Thị Kim Hương, Trưởng Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp/HoatDongAnh/2021-08/thanhnien2021_3_17_Key_05082021143142.1_Key_05082021143142.jpg
8/5/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

Tài sản của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất: 11 nền chợ Cầu xã Long Thuận, thuộc tờ bản đồ số 31, tọa lạc tại ấp Long Hòa, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Diện tích đưa ra đấu giá 11 nền: 1.001,24m2.

- Vị trí đất 11 nền: Có mặt tiền giáp đường nhựa rộng từ 6m đến 7,5 m (đường phân lô phía sau chợ), vĩa hè mỗi bên 3m. Tài sản trên đất: Không có.

- Hình thức sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất.

- Mục đích sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn (ONT). - Thời gian sử dụng đất: Lâu dài.

- Nguồn gốc đất: Đất bố trí nền tái định cư, nhưng không sử dụng hết được UBND tỉnh giao cho huyện tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Hiện UBND xã Long Thuận quản lý.

Tổng giá khởi điểm: 3.958.662.600đồng.

Stt

 

Ký hiệu

Nền đất

 

Tên thửa đất

 

Diện tích

(m2)

 

Giá khởi điểm  (đồng)

 

Tiền đặt trước

(đồng)

1Nền số 1Thửa đất số 126101,24396.354.60059,500,000
2Nền số 2Thửa đất số 13787,75343.541.25051,600,000
3Nền số 3Thửa đất số 13887,75343.541.25051,600,000
4Nền số 4Thửa đất số 13987,75343.541.25051,600,000
5Nền số 5Thửa đất số 14087,75343.541.25051,600,000
6Nền số 6Thửa đất số 14187,75343.541.25051,600,000
7Nền số 7Thửa đất số 14287,75343.541.25051,600,000
8Nền số 8Thửa đất số 14387,75343.541.25051,600,000
9Nền số 9Thửa đất số 14487,75343.541.25051,600,000
10Nền số 10Thửa đất số 15299,00387.585.00058,200,000
11Nền số 11Thửa đất số 15399,00426.393.00064,000,000

- Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 200.000 đồng/nền đất.

 - Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu (có chứng thực).

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 06/9/2021 (thứ hai). Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh và Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Bến Cầu.

- Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo tại nơi có bất động sản. Tổ chức đấu giá từ: 09 giờ, ngày 09/9/2021 (thứ năm), tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bến Cầu.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

       


8/12/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-08/hinh dau gia 3_Key_12082021145211.jpg
8/12/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
Quy định kinh phí phục vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừaQuy định kinh phí phục vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ngày 29/7/2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 64/2021/TT-BTC hướng dẫn lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, có hiệu lực ngày 01/10/2021 và thay thế Thông tư liên tịch số 157/2010/TTLT-BTC-BTP Hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thông tư số 64/2021/TT-BTC được ban hành xác định nguồn kinh phí bảo đảm hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: (i) Nguồn ngân sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp ngân sách nhà nước; (2) Nguồn kinh phí tài trợ, hỗ trợ, đóng góp của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật; và (3) Nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Các nội dung và mức chi chung phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi thực hiện theo quy định hiện hành, gồm: Kinh phí tổ chức các hội nghị chuyên môn, hội nghị sơ kết và tổng kết; hội nghị tập huấn; công tác phí trong nước; đi công tác nước ngoài; chi dịch tài liệu từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài và ngược lại; chi làm đêm, thêm giờ phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; chi hoạt động kiểm tra, giám sát.

 Ngoài các nội dung chi nêu trên, Thông tư này quy định một số nội dung và mức chi cụ thể như: (1) Chi xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng các dữ liệu, cơ sở dữ liệu phục vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; (2) Chi hoạt động cung cấp thông tin pháp luật trong nước, thông tin pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế, cảnh báo rủi ro pháp lý và chính sách của ngành, lĩnh vực, địa phương liên quan đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa; (3) Chi tổ chức các hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, tư vấn viên pháp luật; cho các đối tượng của các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; (4) Chi tổ chức đối thoại, diễn đàn tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; (5) Chi mua các ấn phẩm, sách, tài liệu tuyên truyền phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; và (6) Chi xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các mức chi quy định tại Thông tư này là mức chi làm căn cứ để các Bộ, cơ quan ngang bộ lập dự toán chi phục vụ hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định việc ban hành mức chi cụ thể từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền giao. Căn cứ tình hình thực tế tại địa phương và khả năng cân đối ngân sách địa phương, Ủy ban dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định việc ban hành mức chi cụ thể cho phù hợp để thực hiện ở địa phương. Trường hợp các Bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương không ban hành mức chi cụ thể, thì thủ trưởng cơ quan, đơn vị căn cứ mức chi quy định tại Thông tư này để thực hiện nhưng tối đa không vượt quá mức chi quy định tại Thông tư này, đảm bảo tiết kiệm, tránh lãng phí, trong phạm vi dự toán nguồn kinh phí được cấp có thẩm quyền giao./.

                                                               Phòng XDKT&QLTTPL


9/17/2021 5:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcQuy định kinh phí phục vụ hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa/HoatDongAnh/2021-09/ngoc11_Key_17092021161023.1_Key_17092021161023.2021_Key_17092021161023.29_Key_17092021161023.jpg
9/17/2021 5:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ Tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa  của Quỹ phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừaHỗ trợ Tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa  của Quỹ phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Nhằm hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa (viết tắt là DNNVV) trong bối cảnh diễn biến biến phức tạp của dịch COVID-19, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phê duyệt giảm lãi suất cho vay của Quỹ phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Công văn số 147/QDNNVV-NVCN ngày 26 tháng 7 năm 2021 về việc phổ biến nội dung hỗ trợ tài chính đối với DNNVV.

Để phổ biến nội dung hỗ trợ tài chính của Quỹ đến cộng đồng DNNVV trên địa bàn, trong hiệp hội, Sở Tư pháp thông báo đến các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh một số nội dung chính hỗ trợ tài chính của Quỹ để tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ như sau:

- Đối tượng hỗ trợ: DNNVV khởi nghiệp sáng tạo, DNNVV tham gia cụm liên kết ngành, DNNVV tham gia chuỗi giá trị.

- Mức cho vay tối đa: Không quá 80% tổng mức vốn đầu tư của từng dự án, phương án sản xuất, kinh doanh.

- Mục đích vay vốn: Đầu tư thực hiện dự án, phương án sản xuất, kinh doanh.

- Thời hạn vay vốn tối đa: Không quá 7 năm.

- Thời gian ân hạn: Thời gian ân hạn cho một dự án (vay vốn trung và dai hạn) tối đa là 02 năm.

- Lãi suất cho vay cố định hoặc có thể giảm trong suốt thời hạn vay vốn:

+ Lãi xuất cho vay ngắn hạn: 2,16%/năm

+ Lãi xuất cho vay trung hạn: 4,0%/năm

+ Lãi xuất cho vay dài hạn: 4,0%/năm

- Phương thức trả nợ: Đa dạng, phù hợp với dòng tiền của DNNVV.

- Trả nợ trước hạn: DNNVV được chủ động trả nợ trước hạn và không chịu bất cứ khoản tiền hay phí phạt trả nợ trước hạn.

- Hỗ trợ tín dụng từ Ngân hàng nhận vốn cho vay gián tiếp: Ngân hàng cho vay phần còn lại trong tổng mức đầu tư của dự án vay vốn. Ngân hàng cam kết áp dụng mức lãi suất ưu đãi đối với DNNVV của Ngân hàng trong từng thời kỳ.

- Hỗ trợ khác từ Ngân hàng nhận vốn vay gián tiếp: DNNVV được sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ưu đãi khác của Ngân hàng kèm theo chương trình này nhằm nâng cao hiệu quả khoản vay.

- Hỗ trợ sau vay vốn: DNNVV được tham gia vào các chương trình hỗ trợ tăng cường năng lực do Quỹ tổ chức.

- Nội dung chi tiết quy định về đồng tiền cho vay; Điều kiện cho vay; Các khoản chi phí Quỹ không hỗ trợ; Hồ sơ đề nghị vay vốn; Nộp hồ sơ đề nghị vay vốn, truy cập tại phụ lục kèm theo Công văn số 147/QDNNVV-NVCN./.

147-QDNNVV-NVCV-26.07.2021.signed (1).pdf                                         Phòng XDKT&QLTTPL


9/24/2021 8:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcHỗ trợ Tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa  của Quỹ phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa/HoatDongAnh/2021-09/ngoc11_Key_24092021073122.1_Key_24092021073122.2021_Key_24092021073122.30_Key_24092021073122.jpg
9/24/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Triển khai và thực hiện Quyết định số 259/QĐ-UBND  ngày 28/01/2019 của UBND tỉnh Tây Ninh Triển khai và thực hiện Quyết định số 259/QĐ-UBND  ngày 28/01/2019 của UBND tỉnh Tây Ninh

Để đáp ứng kịp thời và phục vụ cho các tổ chức và cá nhân khi có nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính liên quan của Ngành Tư pháp tỉnh Tây Ninh. Ngày 28 tháng 01 năm 2019 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 259/QĐ-UBND về công bố quy trình nội bộ, quy trình điện tử về giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Ngành Tư pháp tỉnh Tây Ninh.

Theo đó Văn phòng Sở đã tham mưu Ban Giám đốc Sở văn bản hướng dẫn và chỉ đạo việc niêm yết công khai thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan và thực hiện quy trình nội bộ về thủ tục hành chính tại Phòng Tư pháp các huyện, thành phố Tây Ninh; Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn và tại các tổ chức hành nghề Công chứng, Đấu giá trên địa bàn tỉnh Tây Ninh với tổng số 250 thủ tục hành chính. Trong đó cấp tỉnh 173 thủ tục hành chính; cấp huyện 32 thủ tục hành chính và cấp xã 45 thủ tục hành chính. Bên cạnh đó Văn phòng Sở còn thông báo niêm yết, triển khai thực hiện quy trình nội bộ, quy trình điện tử về giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Tây Ninh và tại các đơn vị sự nghiệp công lập với tổng số 173 thủ tục hành chính. Trong đó thủ tục hành chính được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh gồm 146 thủ tục hành chính. Tại trụ sở Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh 07 thủ tục hành chính, tại các tổ chức hành nghề Đấu giá trên địa bàn tỉnh là 05 thủ tục hành chính và tại các tổ chức hành nghề Công chứng trên bàn tỉnh là 15 thủ tục hành chính.

Tất cả các thủ tục hành chính trên được Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh công bố và công khai trên trang thông tin điện tử của Sở Tư pháp tại các địa chỉ https://dichvucong.tayninh.gov.vn và địa chỉ https://motcua.tayninh.gov.vn.

 

                                                                                          Văn phòng Sở

2/22/2019 10:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinVăn phòngTriển khai và thực hiện Quyết định số 259/QĐ-UBND  ngày 28/01/2019 của UBND tỉnh Tây Ninh /HoatDongAnh/2019-02/vp22_Key_22022019094117.2_Key_22022019094117.2019_Key_22022019094117.png
2/22/2019 10:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

* Người có tài sản đấu giá: Công ty TNHH MTV Cao su 30/4 Tây Ninh

- Đấu giá quyền khai thác mủ cao su gồm 93,59 ha tại Nông trường cao su Tân Biên. Thời gian khai thác 180 ngày.

- Giá khởi điểm: 2.040.000.000 đồng. Tiền đặt trước: 400.000.000 đồng. Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu gián tiếp theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đúng ngành nghề (nếu có).

- Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo, tại nơi có tài sản.

- Thời gian, địa điểm tham khảo, đăng ký và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 23/7/2021 (thứ 6), tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh hoặc Công ty TNHH MTV Cao su 30/4 Tây Ninh.

- Tổ chức đấu giá: 08 giờ 30 phút, ngày 26/7/2021 (thứ 2), tại Hội trường Công ty TNHH MTV Cao su 30/4 Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 82 Đường Trần Hưng Đạo, Khu phố 3, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 0276.3813218.


7/9/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-07/hinh dau gia 3_Key_09072021151141.jpg
7/9/2021 4:00 PMNoĐã ban hành
Truyền thông về công tác trợ giúp pháp lý  kết hợp tư vấn pháp luật tại xã Thanh Điền, huyện Châu ThànhTruyền thông về công tác trợ giúp pháp lý  kết hợp tư vấn pháp luật tại xã Thanh Điền, huyện Châu Thành

Sáng ngày 07/5/2018, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh kết hợp với Phòng Tư pháp huyện Châu Thành tổ chức buổi truyền thông về công tác trợ giúp pháp lý kết hợp tư vấn pháp luật cho Nhân dân xã Thanh Điền, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Tham dự buổi truyền thông có bà Nguyễn Xuân Thủy – Trưởng phòng Tư pháp huyện Châu Thành, Lãnh đạo địa phương cùng hơn 80 đại biểu là Nhân dân địa phương, trong đó có nhiều người khuyết tật, người già từ 80 tuổi trở lên. Cấp phát 560 loại tờ gấp pháp luật miễn cho người tham dự.

Tại buổi truyền thông, bà Trần Thị Cẩm Vân, Phó Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã giới thiệu một số điểm mới của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; một số quy định mới có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến nội dung về thừa kế và hợp đồng vay tài sản.

Nhiều ý kiến thắc mắc của người dân liên quan quyền thừa kế đã được Trung tâm Trợ giúp pháp lý trao đổi, giải thích và hướng dẫn thủ tục khởi kiện theo quy định của pháp luật. Trong đó, đáng kể nhất là trường hợp của chị N hỏi liên quan đến thừa kế tài sản. Theo chị trình bày, cha mẹ chị chết nhiều năm rồi mà tài sản để lại là hơn 200 m2 đất thổ cư nhưng không thể sử dụng được với lý do người em trai thứ năm của chị không chịu thỏa thuận phân chia, cũng như không đến cơ quan nhà nước để làm thủ tục tách thửa đất. Do không biết đến quyền được thừa kế tài sản của cha mẹ để lại mà nhiều năm liền chị không thể sử dụng được phần đất trên. Sau khi được Trung tâm hướng dẫn cụ thể các quy định của pháp luật dân sự liên quan đến vụ việc, chị đã hiểu ra và sẽ biết cách để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bản thân mình.

Hoạt động truyền thông pháp luật về trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh đã góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, đã tạo điều kiện cho người dân nói chung và những người thuộc diện trợ giúp pháp lý nói riêng bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

                                                                   Ngọc Linh 

5/11/2018 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTruyền thông về công tác trợ giúp pháp lý  kết hợp tư vấn pháp luật tại xã Thanh Điền, huyện Châu Thành/HoatDongAnh/2018-05/Zalo_636613028461512735_Key_11052018141622.jpg
5/11/2018 3:00 PMYesĐã ban hành
Danh sách người thực hiện trợ giúp pháp lýDanh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý

​xem nội dung chi tiết chọn vào tập tin bên dưới

danh sách người thực hiện TGPL.pdf

8/28/2018 4:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLDanh sách người thực hiện trợ giúp pháp lý/HoatDongAnh/2018-09/tttgpl1_Key_04092018154632.jpg
8/28/2018 4:00 PMYesĐã ban hành
Hưởng ứng ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháyHưởng ứng ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy

Hiện nay, tình hình cháy, nổ diễn ra phức tạp ở nhiều nơi, gây thiệt hại đến vật chất và tính mạng của con người. Vì vậy công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy luôn được tăng cường đã làm chuyển biến nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy của nhân dân trên địa bàn huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Thực hiện công văn số 3300/UBND ngày 15/9/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Châu về việc tổ chức các hoạt động hưởng ứng "Ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy 04/10/2020". Phòng công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh tiến hành treo băng rôn hưởng ứng với khẩu hiệu tuyên truyền "Nhiệt liệt hưởng ứng Ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy - 04/10".

Thông qua hoạt động này nhằm thông tin, tuyên truyền cho mọi người về mối nguy hiểm của việc cháy nổ để chủ động phòng ngừa, giảm thiểu mức thấp nhất các vụ, cháy nổ xảy ra; góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cũng như toàn thể nhân dân trên địa bàn; Vận động cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động thấy rõ trách nhiệm và tích cực tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Cùng với lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, mỗi người dân, mỗi cơ quan, đoàn thể cần tích cực tham gia phong trào toàn dân phòng cháy, chữa cháy, phải xem đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của nhân dân, bảo vệ tài sản của nhà nước và của nhân dân.

Phòng Công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh

10/2/2020 8:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC3Hưởng ứng ngày toàn dân phòng cháy và chữa cháy/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/2/2020 8:00 AMNoĐã ban hành
Tiêu chí về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chứcTiêu chí về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

Ngày 13/8/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

Nghị định gồm 4 Chương 26 Điều quy định về nguyên tắc, tiêu chí, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đánh giá, xếp loại chất lượng hàng năm đối với cán bộ, công chức, viên chức, trong đó Điều 3 của Nghị định quy định cụ thể về tiêu chí đánh giá, , xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

1. Tiêu chí về chính trị tư tưởng

Chấp hành chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình;

Có quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên định lập trường; không dao động trước mọi khó khăn, thách thức;

Đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân;

Có ý thức nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chỉ thị, quyết định và các văn bản của Đảng.

2. Tiêu chí về đạo đức, lối sống

Không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, cơ hội, vụ lợi, hách dịch, cửa quyền; không có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa;

Có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị;

Có tinh thần đoàn kết, xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị trong sạch, vững mạnh;

Không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

3. Tiêu chí về tác phong, lề lối làm việc

Có trách nhiệm với công việc; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ;

Phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc;

Có tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;

Có thái độ đúng mực và phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu của văn hóa công vụ.

4. Tiêu chí về ý thức tổ chức kỷ luật

Chấp hành sự phân công của tổ chức;

Thực hiện các quy định, quy chế, nội quy của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác;

Thực hiện việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập theo quy định;

Báo cáo đầy đủ, trung thực, cung cấp thông tin chính xác, khách quan về những nội dung liên quan đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị với cấp trên khi được yêu cầu.

5. Tiêu chí về kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao

5.1. Đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý

Quán triệt, thể chế hóa và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Duy trì kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; không để xảy ra các vụ, việc vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật phải xử lý, tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài; phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong phạm vi cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; chỉ đạo, thực hiện công tác cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, phụ trách, trong đó xác định rõ kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, lượng hóa bằng sản phẩm cụ thể.

5.2. Đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; khối lượng, tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ;

Thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp đối với những vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/8/2020 và bãi bỏ các Nghị định sau: Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ quy định về đánh giá và phân loại đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 27/7/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ./.

Thanh tra Sở


10/29/2020 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThanh TraTiêu chí về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức/HoatDongAnh/2020-10/thanhtra_Key_29102020151056.29_Key_29102020151056.10_Key_29102020151056.2020_Key_29102020151056.1_Key_29102020151056.png
10/29/2020 4:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next