Tin tức - Tin Công chứng
 
​Ngày 03 tháng 02 năm 2021, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2021/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/3/2021 và thay thế Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Theo đó, Thông tư 01/2021/TT-BTP có một số điểm mới như ...
 
Hiện nay, tình trạng mua bán nhà đất qua hợp đồng ủy quyền khá phổ biến bởi thủ tục mua bán nhanh gọn. Thực ra, đây là một loại giao dịch giả tạo để che đậy một giao dịch khác nhằm mục đích "né" thuế.Với hợp đồng ủy quyền, người có tài sản và Quyền sử dụng đất ủy quyền cho một người khác được phép bán tài sản và Quyền sử dụng đất. Người mua chính là người được ủy quyền nhưng không muốn ...
 
Theo khoản 1 - Điều 2 Luật công chứng năm 2014: "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ...
 
Trong hoạt động công chứng, ngoài việc kiểm tra năng lực của người yêu cầu công chứng, việc tiếp nhận, kiểm tra các loại giấy tờ liên quan như giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn khác liền với đất … cũng rất quan trọng, góp phần bảo đảm tính an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp phát sinh. Theo quy ...
 
Hiện nay, tình hình cháy, nổ diễn ra phức tạp ở nhiều nơi, gây thiệt hại đến vật chất và tính mạng của con người. Vì vậy công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy luôn được tăng cường đã làm chuyển biến nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, ban, ngành và các tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy ...
 
​Xem nội dung kết luận cụ thể chọn vào tập tin bên dướiKet luan thanh tra cong chung (da hoan chinh)_Signed.rar
 
​Hướng tới các hoạt động kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Ngành Tư pháp Việt Nam (28/8/1945 – 28/8/2020), Hội Công chứng viên tỉnh Tây Ninh kết hợp với Công đoàn cơ sở Sở Tư pháp quyết định trao tặng 01 căn nhà Đại đoàn kết cho 01 hộ nghèo tại ấp Long Hưng, xã Long Thuận, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Đây cũng là một trong những hoạt động nhằm hướng tới thực hiện phong trào thi đua "Cả nước ...
 
Sáng ngày 27/4/2020, Ban Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Lễ trao Quyết định thôi việc đối với viên chức lãnh đạo cho bà Nguyễn Thị Đào, Trưởng Phòng Công chứng số 1 trực thuộc Sở Tư pháp. Đến tham dự buổi lễ có Ban Giám đốc Sở Tư pháp và các đồng chí lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc và trực thuộc Sở.Ông Nguyễn Hoàng Nam - Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp trao Quyết địnhthôi việc cho bà ...
 
​​​Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, ...
 
Xem nội dung cụ thể chọn vào tập tin bên dướiQD 1437.rar
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luậtLồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ, ngày 13/8/2014, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BTP Quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Trên cơ sở đó, kể từ ngày 01/10/2014, việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới được thực hiện trong toàn bộ quy trình xây dựng văn bản QPPL để bảo đảm không làm phát sinh bất bình đẳng giới, bảo đảm quyền của mỗi giới trong nội dung, trình tự, thủ tục soạn thảo, ban hành văn bản theo quy định. Cụ thể:

Trong đề nghị xây dựng văn bản QPPL: Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới được thực hiện cả trong giai đoạn đề xuất xây dựng văn bản QPPL và lập đề nghị về Chương trình xây dựng văn bản QPPL. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đề xuất xây dựng văn bản có trách nhiệm xác định, phân tích vấn đề bình đẳng giới, bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới; dự báo khái quát nội dung liên quan đến các vấn đề về giới của chính sách dự kiến quy định trong văn bản được đề nghị xây dựng, đồng thời dự báo tác động sơ bộ chính sách dự kiến quy định đối với mỗi giới, dự kiến các chính sách cơ bản để đảm bảo bình đẳng giới và thể hiện các nội dung này trong bản Thuyết minh về đề nghị xây dựng văn bản và Báo cáo đánh giá tác động gửi cơ quan lập đề nghị Chương trình xây dựng văn bản. Cơ quan lập đề nghị Chương trình xây dựng văn bản có trách nhiệm xác định nội dung liên quan đến vấn đề bình đẳng giới hoặc bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới trong các văn bản được đề xuất, kiểm tra hồ sơ và đánh giá nội dung lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các văn bản được đề xuất.

Trong soạn thảo văn bản QPPL: Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới phải được thể hiện ngay trong việc bảo đảm sự tham gia bình đẳng của nam và nữ trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập, Tổ soạn thảo các dự thảo văn bản được xác định có vấn đề về bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới. Bên cạnh đó, đối với các dự thảo văn bản được xác định có vấn đề về bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải thực hiện đánh giá báo cáo tác động của chính sách về giới và thể hiện nó trong Tờ trình hoặc bản Thuyết minh chi tiết của dự thảo văn bản.

Trong thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản QPPL: Cơ quan có chức năng thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản QPPL (áp dụng đối với thẩm tra dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện) trong quá trình thẩm định, thẩm tra phải xem xét, đánh giá việc xác định vấn đề về giới, việc đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, tính khả thi của văn bản về vấn đề đảm bảo bình đẳng giới và việc tuân thủ quy trình, thủ tục lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng dự thảo văn bản của cơ quan chủ trì soạn thảo. Riêng đối với quá trình thẩm định dự thảo văn bản, cơ quan tư pháp, tổ chức pháp chế phối hợp với cơ quan lao động, thương binh và xã hội đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản và đề nghị cơ quan lao động, thương binh và xã hội cho ý kiến bằng văn bản về việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản.

 

Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn và tổ chức thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản QPPL theo quy định của Thông tư số 17/2014/TT-BTP./.

 

Phòng Xây dựng văn bản-STP

10/23/2014 8:40 AMĐã ban hành(None)Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
10/23/2014 8:40 AMYesĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.

 Nhằm xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phòng, chống, ngăn chặn các vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phát hiện các quy định chưa thống nhất, đồng bộ hoặc chưa phù hợp với thực tiễn để kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ. Ngày 10/3/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ký ban hành Kế hạch kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2021 (Kế hoạch số 712/KH-UBND).

Theo đó, dự kiến trong quý III năm 2021, Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; kiểm tra việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai, về giao rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng, lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy tại các đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, Ban Quản lý vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, UBND các huyện Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu.

Các cơ quan, đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm xây dụng báo cáo thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính của đơn vị mình; cung cấp thông tin, hồ sơ tài liệu và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra; bố trí Lãnh đạo đơn vị làm việc với Đoàn Kiểm tra và chấp hành kết luận kiểm tra, xử lý kết quả kiểm tra trên cơ sở kiến nghị của Đoàn Kiểm tra trong kết luận kiểm tra./.

                                                                                                           Huy Bảo

                                                                                                          Phòng XDKT&QLTTPL – Sở Tư pháp

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinHuy BảoỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202/HoatDongAnh/2021-04/1_Key_02042021075747.bao_02_Key_02042021075747.4_Key_02042021075747.2021_Key_02042021075747.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Tăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnhTăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh

Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (viết tắt là Luật năm 2015); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Luật năm 2020); kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 và trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, định hướng thực hiện giai đoạn 2021-2030, để nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, cụ thể và khả thi; kiểm soát chặt chẽ đảm bảo không ban hành văn bản trái pháp luật trong năm 2021 và những năm tiếp theo.

Ngày 29 tháng 3 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 920/UBND-NC về việc tăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, theo đó Chủ tịch yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện tốt một số nội dung sau đây:

 12.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

1. Kịp thời cập nhật các văn bản của Bộ, ngành Trung ương chủ động báo cáo UBND tỉnh đưa vào Chương trình làm việc của UBND tỉnh để kịp thời đề xuất, tham mưu ban hành văn bản QPPL cho phù hợp. Thường xuyên tổ chức rà soát văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhằm kịp thời phát hiện những quy định, nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với quy định của văn bản pháp luật cấp trên và tình hình kinh tế - xã hội của địa phương, tham mưu sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp, đồng thời công bố các văn bản hết hiệu lực pháp luật theo quy định.

2. Căn cứ nội dung Chương trình công tác lập hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết, quyết định quy phạm pháp luật theo quy định quy định tại Điều 111 Luật năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 32 Điều 1 Luật năm 2020; Điều 127 Luật năm 2015; khoản 1 Điều 2 Quyết định số 588/QĐ-UBND.

3. Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND tỉnh phải nghiên cứu kỹ, cụ thể hóa các nội dung thuộc thẩm quyền, tránh tình trạng dự thảo văn bản chuẩn bị sơ sài, chung chung, sao chép lại các quy định của cấp trên, sao chép văn bản địa phương khác không phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, không đáp ứng yêu cầu đề ra.

4. Thực hiện đúng, đầy đủ các quy trình về trình tự, thủ tục, hồ sơ xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật năm 2015; Luật năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Trong quá trình tổ chức thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc kịp thời phản ánh về Sở Tư pháp để tổng hợp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, chỉ đạo./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTăng cường công tác tham mưu xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh/HoatDongAnh/2021-04/12_Key_02042021075149.hong_Key_02042021075149.22_Key_02042021075149.3_Key_02042021075149.2020_Key_02042021075149.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Những trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thườngNhững trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thường

Theo Điều 13 Nghị định số 03/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới,  thì doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

- Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe cơ giới, người lái xe hoặc người bị thiệt hại;

- Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Trường hợp người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy nhưng đã thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới thì không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

- Người lái xe chưa đủ độ tuổi hoặc quá độ tuổi điều khiển xe cơ giới theo quy định pháp luật về giao thông đường bộ; người lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không hợp lệ (có số phôi ghi ở mặt sau không trùng với số phôi được cấp mới nhất trong hệ thống thông tin quản lý Giấy phép lái xe) hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa hoặc sử dụng Giấy phép lái xe hết hạn sử dụng tại thời điểm xảy ra tai nạn hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không phù hợp đối với xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe. Trường hợp người lái xe bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe có thời hạn hoặc bị thu hồi Giấy phép lái xe thì được coi là không có Giấy phép lái xe;

- Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp bao gồm: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại;

- Thiệt hại đối với tài sản do lái xe điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm theo quy định của pháp luật;

- Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn;

- Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt;

- Chiến tranh, khủng bố, động đất.

Quy định định này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 3 năm 2021. Các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đã giao kết trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định của pháp luật tại thời điểm giao kết hợp đồng. Trường hợp sửa đổi, bổ sung sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực, thực hiện theo quy định tại Nghị định này./.

 10.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

 

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngNhững trường hợp có thiệt hại nhưng không được bảo hiểm bồi thường/HoatDongAnh/2021-04/10_Key_02042021074209.hong_Key_02042021074209.22_Key_02042021074209.3_Key_02042021074209.2020_Key_02042021074209.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lậpViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Cụ thể:

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định là quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục), bao gồm: quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy chế dân chủ trong quản lý các hoạt động giáo dục; trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục và người đứng đầu cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục.


11.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là áp dụng đối với nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non); trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục phổ thông); cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Và việc quản lý trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Thực hiện dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch về chất lượng giáo dục và điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, phù hợp với loại hình nhà trường và quy định của pháp luật về trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.

-  Thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, giáo dục bắt buộc đối với giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở theo quy định của pháp luật về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Về hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021./.

THU HỒNG

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập/HoatDongAnh/2021-04/11_Key_02042021074527.hong_Key_02042021074527.22_Key_02042021074527.3_Key_02042021074527.2020_Key_02042021074527.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Đăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủĐăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủ

Theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp thì:


9.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

1. Người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp không được đăng ký tên doanh nghiệp trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp khác đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc, trừ những doanh nghiệp đã giải thể hoặc đã có quyết định có hiệu lực của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.

2. Phòng Đăng ký kinh doanh có quyền chấp thuận hoặc từ chối tên dự kiến đăng ký của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Để tránh tên doanh nghiệp bị trùng, nhầm và vi phạm quy định về đặt tên doanh nghiệp, ý kiến Phòng Đăng ký kinh doanh là quyết định cuối cùng. Trường hợp không đồng ý với quyết định của Phòng Đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp có thể khởi kiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính.

3. Doanh nghiệp hoạt động theo Giấy phép đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương được cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 được tiếp tục sử dụng tên doanh nghiệp đã đăng ký và không bắt buộc phải đăng ký đổi tên doanh nghiệp trong trường hợp có tên trùng, tên gây nhầm lẫn với tên doanh nghiệp đã đăng ký trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

4. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có tên trùng và tên gây nhầm lẫn tự thương lượng với nhau để đăng ký đổi tên doanh nghiệp.

Quy định này có hiệu lực kể từ ngày 04 tháng 01 năm 2021./.

Chí Hiếu

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinThu HồngĐăng ký tên doanh nghiệp theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP  của Chính phủ/HoatDongAnh/2021-04/9_Key_02042021073801.hong_Key_02042021073801.22_Key_02042021073801.3_Key_02042021073801.2020_Key_02042021073801.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Theo đó, mục đích, yêu cầu và nội dung kế hoạch được đề ra cụ thể như sau:

1. Về mục đích, yêu cầu

- Thông tin tuyên truyền, đào tạo, tập huấn các nội dung về năng suất và chất lượng cho doanh nghiệp trong tỉnh và các cơ quan quản lý có liên quan.

- Hỗ trợ các doanh nghiệp trong tỉnh, ưu tiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm, hàng hóa thuộc ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn của tỉnh (như bột mì, đường, giầy, quần áo, vỏ ruột xe, gạch, xi măng,...), sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu chủ lực, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn; hệ thống quản lý; công cụ cải tiến năng suất chất lượng; công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2. Nội dung cụ thể

- Tăng cường công tác thông tin truyền thông về năng suất, chất lượng

 Đăng báo, tờ rơi, phóng sự,... để thông tin tuyên truyền các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia (01 lần).

Tổ chức 01 hội nghị phổ biến các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,...  

Tham gia các lớp tập huấn, hội nghị, hội thảo, các buổi chia sẻ kinh nghiệm về các nội dung có liên quan đến năng suất và chất lượng, Giải thưởng Chất lượng quốc gia trong và ngoài tỉnh.

-  Đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động nâng cao năng suất chất lượng

 Tổ chức 01 khóa đào tạo về các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,... cho các doanh nghiệp và cán bộ của các cơ quan quản lý chức năng trong tỉnh có liên quan.

 Đào tạo, tập huấn các kiến thức chuyên sâu các nội dung có liên quan đến năng suất, chất lượng; tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, văn bản quy phạm pháp luật; Giải thưởng Chất lượng quốc gia,... cho cán bộ, công chức, chuyên gia đánh giá của các sở, ngành nhằm phục vụ hoạt động hướng dẫn, thẩm định, kiểm tra, giám sát đối với các đơn vị tư vấn và doanh nghiệp, triển khai hoạt động Giải thưởng Chất lượng Quốc gia.

- Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng, công cụ hỗ trợ cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh

Khảo sát, thu thập và số hóa dữ liệu (trực tiếp, điện tử,...), để đánh giá hiện trạng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh về áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ nâng cao năng suất chất lượng,… (khoảng 50 doanh nghiệp).

Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến: 06 hệ thống (Trong đó: 02 hệ thống giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các công cụ cải tiến nâng cao năng suất chất lượng: 04 công cụ (Trong đó: 02 công cụ giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp công bố hợp chuẩn: 02 sản phẩm.

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp công bố hợp quy: 01 sản phẩm (Nội dung này của giai đoạn 2016-2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

Hướng dẫn hoặc hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng Tiêu chuẩn công bố áp dụng: 08 Tiêu chuẩn.

Hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp tham gia và đạt Giải thưởng Chất lượng quốc gia (Trong đó: 01 giải vàng, 01 giải thưởng Chất lượng quốc gia năm 2020 chuyển tiếp sang thực hiện năm 2021).

- Tính toán mức đóng góp các chỉ tiêu tổng hợp (TFP) ảnh hưởng chủ yếu đến tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh

Tính toán mức đóng góp các chỉ tiêu (Năng suất lao động, Năng suất vốn, Năng suất các yếu tố tổng hợp - TFP) ảnh hưởng chủ yếu đến tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh giai đoạn 2016-2020.

Để nội dung Kế hoạch triển khai đạt hiệu quả Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm quản lý, theo dõi, thực hiện các nhiệm vụ được giao./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

950 ub. kh trien khai chuong trinh quoc gia.signed.pdf

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcChương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và  chất lượng sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021/HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021090032.1_Key_05042021090032.2021_Key_05042021090032.16_Key_05042021090032.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021

Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/3/2021, HĐND và UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 08 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 01 Nghị quyết và 07 Quyết định. Cụ thể:

Về Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có 01 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 23/3/2021 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tỉnh và chính sách hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tỉnh Tây Ninh giai đọn 2017-2020. Theo đó Nghị quyết quy định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 theo chuẩn quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 đến hết ngày 31/12/2021.

Về quyết định của UBND tỉnh có 07 quyết định, gồm:

Quyết định số 01/2021/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Quyết định gồm 06 Điều trong đó có quy định về: Hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021 chung cho tất cả các loại đất ở các khu vực nông thôn, khu vực đô thị, Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài và Khu kinh tế Cửa khẩu Xa Mát; các trường hợp áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 01 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thay thế Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020 và Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020.

Quyết định số 02/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2030. Theo đó mật độ chăn nuôi tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được quy định như sau: (i) Thành phố Tây Ninh: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,26 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,40 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ii) Thị xã Hòa Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,39 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iii) Thị xã Trảng Bàng: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 1,08 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iv) Huyện Châu Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,91 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (v) Huyện Dương Minh Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,97 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vi) Huyện Tân Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,65 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,80 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vii) Huyện Tân Biên: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,53 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (viii) Huyện Gò Dầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,41 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,00 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ix) Huyện Bến Cầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,93 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Tại địa bàn cấp huyện có mật độ chăn nuôi đã đạt tới quy định thì chỉ cho đầu tư đối với những dự án chăn nuôi phù hợp chiến lược phát triển chăn nuôi, công nghệ chăn nuôi và môi trường sinh thái nhưng phải đảm bảo mật độ chăn nuôi trên toàn tỉnh không vượt quá 1,5 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021.

Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Theo đó Quy chế quy định về nguyên tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; các thành viên UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với UBND tỉnh chịu sự điều chỉnh của Quy chế này. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021, thay thế Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND ngày 20/10/2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND ngày 28/01/2021 phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó quyết định một số nội dung phân cấp nổi bật cho UBND cấp huyện như: Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm thuộc phạm vi phân cấp quản lý; lưu trữ có hệ thống các hồ sơ liên quan đến hoạt động kiểm tra việc thực hiện nội dung đã cam kết, thẩm định các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi phân cấp quản lý; thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn theo phân cấp quản lý, định kỳ trước ngày 01 của tháng cuối quý hoặc đột xuất theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/02/2021 và thay thế Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

          Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND ngày 18/3/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Quyết định số 35/2017/QD-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định giá dịch vụ tối đa sử dụng phà trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo đó quyết định đã sửa đổi quy định "Tổ chức và cá nhân thu giá dịch vụ sử dụng phà không do nhà nước đầu tư có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định hiện hành". Quyết định này được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/3/2021.

          Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định về tổ chức, chế độ, chính sách và trang bị đối với lực lượng Bảo vệ dân phố trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021 và thay thế các Quyết định số 07/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 12/2013/QĐ-UBND, Quyết định số 63/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND.

          Quyết định số 07/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Ban quản lý Vườn Quốc gia Lò gò – Xa mát. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021/HoatDongAnh/2021-04/2_Key_02042021143150.hong_Key_02042021143150.22_Key_02042021143150.3_Key_02042021143150.2020_Key_02042021143150.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số

Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Bộ Thông tin và truyền thông ban hành Quyết định số 377/QĐ-BTTTT phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số. Theo đó, mục tiêu và đối tượng của Chương trình được phê duyệt như sau:  

Mục tiêu chung:

Đẩy nhanh việc chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa (gọi tắt là doanh nghiệp SMEs) thông qua việc sử dụng các nền tảng số xuất sắc do Chương trình lựa chọn; các hoạt động của Chương trình nhằm giúp các doanh nghiệp SMEs tối ưu hóa hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực và lợi thế cạnh tranh, tạo ra các giá trị mới cho doanh nghiệp, góp phần phát triển kinh tế số quốc gia và trong từng ngành, lĩnh vực, địa bàn.

Mc tiêu cụ thể:

- Lựa chọn và huy động được các nền tảng số xuất sắc tham gia Chương trình với các chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các doanh nghiệp SMEs sử dụng nền tảng số để đẩy nhanh chuyển đổi số doanh nghiệp.

- Tối thiểu 50.000 người/năm được tiếp cận Chương trình, cập nhật thông tin, nâng cao nhận thức về chuyển đổi số cho doanh nghiệp.

- Tối thiểu 30.000 doanh nghiệp/năm được trải nghiệm các nền tảng số để chuyển đổi số doanh nghiệp.

- Thiết lập được Mạng lưới chuyên gia gồm tối thiểu 100 tổ chức, cá nhân tư vấn thúc đẩy chuyển đổi số.

Đối tượng của Chương trình:

- Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh có nhu cầu chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh.

- Các doanh nghiệp nền tảng số, cơ quan, tổ chức, hiệp hội, viện, trường có các công nghệ số, nền tảng số, và các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số trong doanh nghiệp.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Chương trình được thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước, từ nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân, các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định hiện hành./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

377_QD-BTTTT.pdf
4/5/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcChương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số /HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021085121.1_Key_05042021085121.2021_Key_05042021085121.18_Key_05042021085121.jpg
4/5/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệpQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 17/QĐ-TTg quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó,  người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được hỗ trợ với mức học nghề như sau:

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề đến 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo mức thu học phí của cơ sở đào tạo nghề nghiệp và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/người/khóa đào tạo.

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề trên 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo tháng, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 1.500.000 đồng/người/tháng.

Trường hợp người lao động tham gia khóa đào tạo nghề có những ngày lẻ không đủ tháng theo quy định của cơ sở đào tạo nghề nghiệp thì số ngày lẻ được tính theo nguyên tắc: Từ 14 ngày trở xuống tính là ½ tháng và từ 15 ngày trở lên được tính là 01 tháng.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021. Đối với người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định hỗ trợ học nghề thì được áp dụng mức hỗ trợ học nghề theo các quy định tại Quyết định này./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

QD17TTghotrodaotaonghecothamgiaBHTN (1).pdf
4/5/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp/HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021084747.1_Key_05042021084747.2021_Key_05042021084747.17_Key_05042021084747.jpg
4/5/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng 4.053,8m2 đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu phố Thương mại Tân Biên tại Khu phố 2, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

+ Mục đích sử dụng đất: Xây dựng Khu phố thương mại, nhà ở thương mại.

+ Hình thức sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc Quyết định giao đất.

+ Thời sử dụng đất đối với Nhà đầu tư: 50 năm. (Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử đất của dự án được giao đất ổn định lâu dài).

- Giá khởi điểm: 67.108.891.543 đồng. Tiền đặt trước: 6.710.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 1.000.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy phép kinh doanh và giấy CMND, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản và hồ sơ năng lực theo tiêu chí (theo mẫu Trung tâm ban hành).

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 26/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 29/4/2021 (thứ năm).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/6/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_06042021145315.jpg
4/6/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
Mục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025Mục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 – 2025 tại Quyết định số 81/QĐ-TTg. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Theo đó, mục tiêu Chương trình đề ra nhằm triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả, thiết thực Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày 12 tháng 6 năm 2017, Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Kế thừa, phát huy kết quả của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015 - 2020. Chương trình được phê duyệt nhằm: triển khai đồng bộ, hiệu quả, công khai, minh bạch, ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đáp ứng nhu cầu hỗ trợ pháp lý của doanh nghiệp; bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực; định hướng cho các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, ngành, địa phương; nâng cao hiểu biết, ý thức và thói quen tuân thủ pháp luật, hạn chế rủi ro, vướng mắc pháp lý trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, thúc đẩy sự tham gia xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật kịp thời nhằm phục vụ doanh nghiệp phát triển, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.

          Bên cạnh các mục tiêu chung thì Chương trình cũng đưa ra các mục tiêu cụ thể để thực hiện các nội dung của Quyết định như sau:

Cung cấp thông tin pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, gồm: xây dựng, quản lý, duy trì, cập nhật, khai thác và sử dụng 01 cơ sở dữ liệu về vụ việc, vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; cung cấp các chính sách, đề án, chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của các bộ, ngành, địa phương; tiếp nhận 100% phản ánh từ doanh nghiệp nhỏ và vừa để đề xuất, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết vướng mắc, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả.

Bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho: tối thiểu 30% doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao hiểu biết, ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro pháp lý trong kinh doanh; tối thiểu 60% người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật, bao gồm: tư vấn trực tiếp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; tư vấn pháp luật qua diễn đàn, đối thoại và các hoạt động tư vấn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm đảm bảo 100% đề nghị tư vấn của doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua Chương trình được giải quyết hoặc kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết./.

                                                                   Phòng XDKT&QLTTPL

 

81.rar


1/28/2021 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcMục tiêu Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2020 - 2025/HoatDongAnh/2021-01/ngoc11_Key_28012021143642.1_Key_28012021143642.2021_Key_28012021143642.10_Key_28012021143642.jpg
1/28/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Sở Tư pháp, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh phối hợp ban hành  quy chế về hoạt động trợ giúp pháp lýSở Tư pháp, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh phối hợp ban hành  quy chế về hoạt động trợ giúp pháp lý

Để tăng cường công tác phối hợp trợ giúp pháp lý (viết tắt là TGPL) cho người thuộc diện được TGPL, ngày 25/02/2020, Sở Tư pháp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh thống nhất ban hành Quy chế phối hợp về hoạt động TGPL (Quy chế số 382/QCPH-STP-SLĐTBXH-HBTNKT&BVQTE).

Quy chế này gồm có 03 chương với 10 điều quy định về nguyên tắc, phương thức và nội dung phối hợp, phân công trách nhiệm giữa Sở Tư pháp, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh trong hoạt động TGPL.

Nguyên tắc phối hợp trên cơ sở tuân thủ theo quy định của pháp luật, bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi Bên trong hoạt động TGPL, tôn trọng và tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình phối hợp để thực hiện tốt nhiệm vụ. Bảo đảm các hoạt động phối hợp được triển khai thực hiện thống nhất, thường xuyên, kịp thời và hiệu quả. Thực hiện chế độ bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, các Bên phối hợp cung cấp thông tin, truyền thông về công tác TGPL để công chức, viên chức, người lao động, hội viên, người được thụ hưởng chính sách TGPL biết về chính sách TGPL của Nhà nước.

Các Bên phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi để Sở Tư pháp tổ chức truyền thông về công tác TGPL kết hợp với tư vấn pháp luật, trang bị và cung cấp các Bảng thông tin về TGPL, danh sách người thực hiện TGPL tại các đơn vị.

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, các Bên phát hiện người thuộc diện được TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý mà họ có nhu cầu được TGPL thì giải thích, hướng dẫn họ biết để được tiếp cận dịch vụ TGPL miễn phí của Nhà nước. Cụ thể: Giải thích, hướng dẫn về diện người được TGPL, phạm vi, lĩnh vực, hình thức TGPL, quyền và nghĩa vụ của người được TGPL...

Theo đó, tại Điều 6 của Quy chế này quy định Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm: Cung cấp các thông tin về TGPL, phối hợp thực hiện truyền thông về công tác TGPL tại đơn vị mình khi có nhu cầu; Tạo điều kiện thuận lợi để Sở Tư pháp thực hiện công tác truyền thông kết hợp tư vấn pháp luật tại đơn vị; Chủ động hướng dẫn, giải thích cho người được TGPL tiếp cận chính sách TGPL; Giới thiệu người được TGPL quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý đến Sở Tư pháp khi họ có nhu cầu được TGPL.

Sở Tư pháp có trách nhiệm: Trang bị và cung cấp các Bảng thông tin về TGPL, danh sách người thực hiện TGPL; Thực hiện truyền thông về công tác TGPL khi các Bên đề nghị hoặc theo yêu cầu tình hình nhiệm vụ; Thực hiện TGPL theo quy định; Chủ trì trong việc góp ý các văn bản liên quan đến hoạt động TGPL; Chủ động phối hợp thực hiện sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế này.

Kinh phí thực hiện Quy chế này được sử dụng từ nguồn kinh phí của các Bên được cơ quan có thẩm quyền cấp hằng năm. Lãnh đạo các Bên có trách nhiệm quán triệt, triển khai và chỉ đạo các đơn vị có liên quan thực hiện đầy đủ các nội dung phối hợp trong Quy chế này.

Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước làm đầu mối tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động truyền thông về TGPL, tiếp nhận và thực hiện TGPL cho các đối tượng do các Bên giới thiệu đến./.

                                                                      Ngọc Linh

3/10/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLSở Tư pháp, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Hội Bảo trợ người khuyết tật và bảo vệ quyền trẻ em tỉnh Tây Ninh phối hợp ban hành  quy chế về hoạt động trợ giúp pháp lý/HoatDongAnh/2020-03/tgpl10_Key_19032020140404.3_Key_19032020140404.2020_Key_19032020140404.1_Key_19032020140404.png
3/10/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Một số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sưMột số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sư

-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ.

          Theo đó các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp trong đó có hoạt động luật sư được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế toàn bộ các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động luật sư về số lượng, vị trí các điều được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP vẫn giữ nguyên như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP cụ thể gồm 04 điều, từ Điều 5 đến Điều 8 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Nghị định số 110/2013/NĐ-CP cũng quy định 04 điều, từ Điều 5 đến Điều 8). Tuy nhiên, về nội dung có rất nhiều điểm mới so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Trong đó, có các điểm mới nội bật sau:

Thứ nhất: Mức xử phạt và hình thức xử phạt

  • Về mức xử phạt: Theo quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động luật sư thấp nhất là 1.000.000 đồng, cao nhất là 50.000.000 đồng; còn theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP mức thấp nhất là 500.000 đồng, mức cao nhất 40.000.000 đồng. Đồng thời, các quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính đối với từng hành vi cụ thể của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng được quy định cao hơn rất nhiều so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
  • Về hình thức xử phạt: Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP hình thức xử phạt trong hoạt động luật sư có 02 hình thức xử phạt chính đó là phạt tiền và tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư; hình phạt tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung, nếu là hình phạt chính thì thời hạn tước tối thiểu là 06 tháng và tối đa là 12 tháng, nếu là hình phạt bổ sung thì thời hạn tước tối thiểu là 01 tháng và tối đa là 03 tháng. Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP các hành vi vi phạm trong hoạt động luật sư chỉ còn 01 hình thức xử phạt chính đó là phạt tiền; còn hình thức xử phạt về tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt bổ sung thời hạn tước tối thiểu là 01 tháng và tối đa là 09 tháng.

    Thứ hai: Về hành vi vi phạm
  • Nhằm đảm bảo phù hợp với sự phát triển các mối quan hệ xã hội cũng như phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực luật sư và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan đến hoạt động của luật sư, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định bổ sung nhiều hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, cụ thể:

+ Tại Điều 5 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định bổ sung các hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; gia nhập Đoàn luật sư; giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam. Đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; gia nhập Đoàn luật sư, giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Trước đây tại Điều 5 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với các hành vi này, chỉ quy định xử phạt các hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam; hồ sơ đề nghị cấp giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định đối với hành vi khai không trung thực, che giấu thông tin của cá nhân, tổ chức trong hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đây cũng là một hành vi mới trước đây Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định và với mức phạt tiền của hành vi này cũng rất cao.

+  Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về các "hành vi vi phạm quy định đối với hoạt động nghề luật sư" cũng được bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm mới bị xử phạt vi phạm hành chính mà trước đây Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định, ví dụ như:

Hành vi không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ; thông báo không đúng thời hạn cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Đối với hành vi làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động; hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định; hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận; ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Đặc biệt Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định luật sư có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng…; ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, đây là điểm mới nổi bật so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và mức xử phạt cho hành vi vi phạm này rất cao.

+ Đối với nhóm "hành vi vi phạm quy định đối với hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư" quy định tại Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP được bổ sung mới một số hành vi sau:

Đăng báo không đúng thời hạn hoặc số lần về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Đối với hành vi không đăng báo, thông báo về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; nhận người không đủ điều kiện tập sự hành nghề luật sư vào tập sự hành nghề tại tổ chức mình; không nhận người tập sự hành nghề luật sư theo phân công của Đoàn luật sư mà không có lý do chính đáng; không cử đúng người làm việc hoặc không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, không chính xác, chậm trễ thông tin, giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

+ Đặc biệt nhóm "hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư" quy định tại Điều 8 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định thêm rất nhiều hành vi vi phạm mới so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, cụ thể là các hành vi được quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 và các hành vi được quy định từ điểm b cho đến điểm g khoản 3 Điều 8 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP

  • Ngoài việc quy định thêm mới nhiều hành vi vi phạm hành chính, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không còn quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi liên quan đến việc sử dụng, làm giả các giấy tờ trong việc cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, đăng ký hành nghề luật sư, cấp giấy phép hành nghề luật sư, giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư; cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, giấy phép thành lập cho các tổ chức hành nghề luật sư được quy định tại các khoản 2, khoản 3 Điều 5, điểm d khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều 6, điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 7 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
  • Bên cạnh đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP phân định rõ mức độ vi phạm của hành vi không thực hiện và có thực hiện nhưng thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác để có mức xử phạt tương ứng với hành vi vi phạm như: khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định đối với các hành vi thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác thì mức phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; khoản 2 Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đối với các hành vi không thực hiện thì mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Còn tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không phân định rõ mức độ vi phạm của hành vi không thực hiện và có thực hiện nhưng thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác mà quy định 02 hành vi này chung một mức xử phạt.
  • Ngoài ra, tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt chính. Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định hình phạt tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt bổ sung. Vì vậy, các hành vi vi phạm được quy định tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP áp dụng hình thức xử phạt tiền là hình thức xử phạt chính và mức xử phạt tương đối cao.

    Thứ ba: Biện pháp khắc phục hậu quả

    Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không còn quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi liên quan đến việc sử dụng, làm giả các giấy tờ trong hoạt động luật sư như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, mà chỉ quy định các hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung các giấy tờ trong hoạt động luật sư. Do đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng không còn quy định việc hủy bỏ các giấy tờ giả là một biện pháp khắc phục hậu quả như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Thay vào đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả là kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung được quy định tại khoản 4 Điều 5 và điểm a, điểm b khoản Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

    Nhìn chung Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định hình thức xử phạt, mức xử phạt, các hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với tính chất, mực độ vi phạm của các hành vi và phù hợp với sự phát triển các mối quan hệ xã hội hiện nay./.

     
                                                              Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp
11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Luật sưTinHCTPMột số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sư/HoatDongAnh/2020-11/luat su_Key_03112020142432.jpg
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây NinhNhững khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Trong thời gian qua công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt được những kết quả nhất định: thông qua các Hội nghị tập huấn của ngành đã phổ biến các quy định về pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp; xây dựng hệ cơ sở dữ liệu các văn bản quy phạm pháp luật để cập nhật các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tra cứu văn bản, tiếp cận thông tin về các chế độ chính sách của tỉnh đối với doanh nghiệp,…Từ đó, nhận thức của các doanh nghiệp đối với việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ngày càng nâng lên.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Sở Tư pháp đã xây dựng "Đề án tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh" để đăng ký tham gia tổ chức hoạt động năm 2020 của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 Bộ Tư pháp (Chương trình 585) và đã được Bộ Tư pháp phê duyệt danh sách cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện các hoạt động năm 2020 của Chương trình 585 - Bộ Tư pháp, với nội dung chuyên đề: "Bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh trong doanh nghiệp". 

Bên cạnh những kết quả đạt được, địa phương vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và triển khai thực hiện Nghị định số 55/2019/NĐ-CP nói riêng, cụ thể:

- Từ khi Nghị định số 55/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, địa phương chưa nhận được văn bản hướng dẫn chi tiết triển khai thực hiện, do đó việc tham mưu triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 12 còn chậm ban hành.  

- Việc cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp còn nhiều bất cập; các doanh nghiệp chưa chủ động trong việc đề nghị hỗ trợ pháp lý, chưa tích cực tham gia các lớp tập huấn khi được mời; tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi tham gia các chương trình hỗ trợ pháp lý.

- Đội ngũ cán bộ, nhân viên của các doanh nghiệp còn hạn chế trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng pháp luật; đội ngũ cán bộ phụ trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm, chưa được thường xuyên bồi dưỡng về nghiệp vụ nên đôi lúc còn lúng túng trong việc hỗ trợ pháp lý khi doanh nghiệp có yêu cầu.

- Kinh phí chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra; cơ chế, chính sách dành cho cơ quan thực hiện hỗ trợ pháp lý chưa rõ ràng./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

8/7/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLNhững khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2020-08/xlvphc06_Key_07082020102052.8_Key_07082020102052.2020_Key_07082020102052.4_Key_07082020102052.jpg
8/7/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lýỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lý

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được tiến hành sâu rộng trong ban ngành, đoàn thể, địa phương và Nhân dân. Công tác trợ giúp pháp lý (viết tắt là TGPL) cơ bản đáp ứng được nhu cầu TGPL của người nghèo, đối tượng chính sách và đối tượng yếu thế khác trong xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác TGPL thời gian qua chưa thật sự thu hút được các nguồn lực xã hội tham gia; trong khi đối tượng thuộc diện được TGPL và nhu cầu thụ hưởng TGPL ngày càng được mở rộng và tăng cao. Một số đối tượng thuộc diện được TGPL chưa được tiếp cận với dịch vụ TGPL miễn phí như người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, một số nhóm đối tượng có khó khăn về tài chính.

Để tiếp tục thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng và triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung theo Chương trình số 01-CTr/BCĐ ngày 27/3/2020 của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh về trọng tâm công tác cải cách tư pháp năm 2020, ngày 27/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 849/UBND-NCPC chỉ đạo tăng cường công tác TGPL.

Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố như sau:

- Sở Tư pháp có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác TGPL; chủ trì, phối hợp với các ngành, các cấp tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch có liên quan đến công tác TGPL phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương theo từng giai đoạn. Tăng cường truyền thông về công tác TGPL cho Nhân dân trên địa bàn tỉnh, tăng cường việc tiếp cận đối tượng thuộc diện được TGPL bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng nhằm nâng cao ý thức về tầm quan trọng của công tác TGPL; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với chính sách TGPL. Tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho người thực hiện TGPL; cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đồng thời Sở Tư pháp cần phát huy vai trò của cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, chủ trì và phối hợp với các ngành là thành viên Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

- Sở Tài chính căn cứ quy định của pháp luật tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí cho công tác TGPL; kinh phí cho hoạt động của Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh hiệu quả, tiết kiệm.

- Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Tây Ninh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác TGPL, tăng thời lượng phát sóng, thường xuyên đưa tin, bài viết về Luật TGPL năm 2017, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TGPL, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC để giúp người dân tiếp cận và thụ hưởng các chính sách về TGPL.

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội định kỳ rà soát, tổng hợp số liệu của trẻ em, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật và các đối tượng khác theo quy định tại Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 đang quản lý theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và thông tin cho Sở Tư pháp biết.

Thông qua các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình thông tin cho Nhân dân biết về chính sách TGPL của Đảng và Nhà nước, kịp thời nắm bắt nhu cầu TGPL của người dân để hướng dẫn họ tiếp cận với chính sách TGPL (qua Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp).

Phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức truyền thông về công tác TGPL cho người được TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017 mà Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đang quản lý để họ hiểu rõ về quyền được TGPL và thụ hưởng dịch vụ TGPL miễn phí khi có yêu cầu.

- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cùng cấp thường xuyên quan tâm phối hợp với ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về Luật TGPL năm 2017, Nghị định 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Chỉ đạo các đơn vị có liên quan tích cực phối hợp, hỗ trợ Trung tâm TGPL nhà nước triển khai các hoạt động TGPL trên địa bàn; tích cực hướng dẫn người được TGPL tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ pháp lý của Nhà nước.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC và các luật, bộ luật tố tụng có liên quan trong hệ thống của ngành; phát huy và thực hiện tốt vai trò là thành viên Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh.

- Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh phối hợp công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục Luật TGPL năm 2017, Nghị định 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành theo dõi, kiểm tra việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện cho Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp - Tỉnh ủy Tây Ninh theo quy định./. 

                                                        Ngọc Linh

5/18/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinThông báoỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lý/HoatDongAnh/2020-05/tgpl_Key_18052020140446.jpg
5/18/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Tình người nơi pháp đìnhTình người nơi pháp đình

Gia đình là nơi hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ em để mai sau thành những công dân sống có ích cho xã hội, là nơi rèn giũa để các em phát triển lành mạnh theo năm tháng. Nhưng hiện nay, vấn đề ly hôn, ly thân, bỏ bê con cái đang diển ra ngày càng nhiều, đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc gia tăng tội phạm vị thành niên, là ghánh nặng cho cộng đồng và kéo theo những hệ lụy liên quan đến tệ nạn xã hội gia tăng đáng báo động.

Như vụ án "Trộm cắp tài sản" được Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vào sáng ngày 14/5/2020 cũng xuất phát từ việc gia đình, cha mẹ thiếu quan tâm dẫn đến con mình sinh ra lâm vào hoàn cảnh trộm cắp. Pháp luật tuy có tính chất nghiêm khắc, giáo dục tội phạm nhưng kết thúc bằng bản án thể hiện tính nhân văn sâu sắc tại chốn pháp đình.

Theo cáo trạng của VKSND huyện Gò Dầu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Hùng vào khoảng 22 giờ, ngày 20/9/2019, tại khu vực thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn Cường do thiếu nợ của Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng, không có tiền trả đã nảy sinh ý định lấy trộm 01 cây bông trang dạng bonsai trị giá 11.300.000 đồng của anh Nguyễn Nguyên Bảo Thắng.

Khi được Hội đồng xét xử thẩm tra về lý lịch, bị cáo Nguyễn Văn Cường, sinh năm 2003 khai báo về hoàn cảnh gia đình, từ lúc sinh ra cho đến tận ngày hôm nay bị cáo không hề biết gì về mẹ ruột, bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ không có vòng tay che chở, lơi ấm từ mẹ. Sống cùng với cha, mưu sinh bằng nhiều nghề làm mướn, lang thang rày đây mai đó, không có có nơi ở cố định.

Cha bị cáo có lúc cũng chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ. Đến năm bị cáo được khoảng 15 tuổi thì cha bị cáo tiếp tục sống chung với một người phụ nữ, mẹ kế quá khắt khe, thường xuyên đánh đập, hành hạ, không thể chung sống được nên bị cáo bỏ nhà đi sống lang thang tại khu vực huyện Trảng Bàng bằng nghề chăn vịt, chăn bò cho người khác để kiếm cơm hàng ngày không được đến trường như bao đứa trẻ khác. Đến tối ngủ trong chòi vịt, chuồng bò, nghe mà quá xót xa cho thân phận của một đứa trẻ ở tuổi ăn học, tổi mới lớn.

Bị cáo Nguyễn Văn Cường là người bị buộc tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh phân công Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa trong phiên tòa xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

Dẫu biết rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên xét về nguyên nhân cũng như hoàn cảnh, điều kiện tác động đến hành vi phạm tội thì thấy rằng bị cáo đáng thương hơn đáng trách. Cũng vì sống lang thang, không có nơi ở cố định, thiếu thốn về vật chất, em Cường có mượn của anh Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng để mua thức ăn. Sau đó, em Cường mới nảy sinh ý định đi trộm cây bông trang để trả nợ 200.000 đồng cho anh Hùng. Nên sau đó, em đã đi đến nhà của anh Thắng trộm cắp cây bông trang rồi đem đến trả cho anh Hùng để trừ nợ, có 200.000 đồng nhưng đánh đổi lại một hình phạt tù thật sự không đáng.

Trong thời kỳ Nhà nước ta đang phổ cập giáo dục cho công dân thì với độ tuổi của bị cáo Cường tính đến ngày xét xử đã hơn 17 như thế tối thiểu cũng có thể đọc và viết được tên của mình nhưng bị cáo Cường không hề biết một mặt chữ nào, không biết đọc, không biết viết, đó là một sự thiệt thòi rất lớn đối với bị cáo, thể hiện sự thiếu quan tâm của cha mẹ, trách nhiệm của gia đình, của xã hội.

Trước khi mở phiên tòa, cha ruột của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, từ chối hẳn trách nhiệm của bậc làm cha đối với chính núm ruột của mình, từ chối hẳn đứa con mà mình phải có nghĩa vụ cưu mang. Những người trong phòng xử án đều có cái nhìn cảm thương cho số phận của em, không biết cuộc đời em sau này sẽ như thế nào. Nhìn sâu trong ánh mắt của em làm cho mỗi người đều cảm thấy nhói lòng, em trả lời sống những ngày trong Nhà Tạm giữ hình như có cái ăn, cái mặc hơn là bên ngoài, có người trò chuyện cùng, có cán bộ quản giáo chăm sóc mà từ trước giờ em chưa được hưởng cảm giác của tình yêu thương.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý đã trình bày trước Hội đồng xét xử, thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã áp dụng  nhưng cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh đáng thương của bị cáo như đã phân tích trên đây quyết định cho bị cáo một mức án phù hợp.

Hội đồng xét xử cân nhắc hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình, nhân thân, cân nhắc lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý quyết định cho bị cáo Cường hưởng mức án tù bằng thời hạn tạm giam, tạm giữ là 04 tháng 09 ngày, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Tôi nhìn thấy ánh mắt của em sáng lên niềm vui tột cùng, hạnh phúc đong đầy nhưng ẩn chứa một nỗi lo sau này đối với cuộc sống mưu sinh.

Phiên tòa kết thúc với bản án sâu đậm tình người vừa có sức thuyết phục sâu sắc những người tham dự.

                                                              Ngọc Linh

5/21/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTình người nơi pháp đình/HoatDongAnh/2020-05/21_Key_21052020082816.5_Key_21052020082816.2020_Key_21052020082816.png
5/21/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Những điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTPNhững điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTP

Ngày 03 tháng 02 năm 2021, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2021/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/3/2021 và thay thế Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Theo đó, Thông tư 01/2021/TT-BTP có một số điểm mới như sau:

* Về bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề công chứng:

          - Tại khoản 3 Điều 3, quy định cụ thể các loại giấy tờ chứng minh thời gian công tác pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Công chứng là một hoặc một số giấy tờ sau đây:

 

a)  Giấy tờ quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều này;

b)  Quyết định tuyển dụng, quyết định luân chuyển, điều động, hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với vị trí công tác pháp luật được tuyển dụng hoặc ký hợp đồng;

c)  Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư, Chứng chỉ hành nghề đấu giá, Chứng chỉ hành nghề quản tài viên, quyết định bổ nhiệm Thừa phát lại kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với các chức danh này;

d)  Các giấy tờ hợp pháp khác chứng minh thời gian công tác pháp luật.

          - Tại điểm e, khoản 1, Điều 4 quy định bổ sung các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký hành nghề, cụ thể: Quyết định thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, Chứng chỉ hành nghề đấu giá, quyết định miễn nhiệm Thừa phát lại, giấy tờ chứng minh đã chấm dứt công việc thường xuyên khác; giấy tờ chứng minh đã được Sở Tư pháp xóa đăng ký hành nghề ở tổ chức hành nghề công chứng trước đó hoặc văn bản cam kết chưa đăng ký hành nghề công chứng kể từ khi được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên.

* Về đào tạo nghề công chứng, khóa bồi dưỡng nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm:

          - Theo Thông tư 01/2021/TT-BTP, thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm (16 giờ/năm), giảm 01 ngày so với quy định cũ.

          - Thông tư quy định những trường hợp được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ trong năm, gồm:

a) Công chứng viên nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi;

b) Công chứng viên phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh đối với những bệnh thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên, có giấy chứng nhận của cơ quan y tế cấp huyện hoặc tương đương trở lên.

- Quy định trách nhiệm của Hội công chứng viên Việt Nam trong thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm:

a) Thực hiện nhiệm vụ của tổ chức thực hiện bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Hướng dẫn nội dung trọng tâm bồi dưỡng nghiệp vụ theo từng năm cho các Hội công chứng viên;

c) Hướng dẫn, tổng kết, đánh giá việc thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ của Hiệp hội và các Hội công chứng viên;

d) Hướng dẫn việc thu, quản lý, sử dụng chi phí thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ của các Hội công chứng viên theo quy định của pháp luật.

 

* Về tổ chức và hoạt động công chứng:

          Thông tư 01/2021/TT-BTP quy định bổ sung một số nội dung về kiểm tra tổ chức và hoạt động công chứng như: nội dung kiểm tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra; trình tự, thủ tục kiểm tra.

          Ngoài ra, Thông tư còn quy định rút ngắn thời gian thực hiện việc đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên, xóa đăng ký hành nghề và thu hồi Thẻ công chứng viên; ban hành kèm theo 29 biểu mẫu trong hoạt động công chứng.

                                                                  

                                                             Phòng Công chứng số 3 Tây Ninh

3/23/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngCC3Những điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTP/HoatDongAnh/2021-03/cc3_Key_23032021090952.3_Key_23032021090952.2020_Key_23032021090952.1_Key_23032021090952.jpg
3/23/2021 10:00 AMNoĐã ban hành
Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020

Vào ngày 22/10/2020, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nhà tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.

Tham dự Đoàn kiểm tra có Lãnh đạo Sở Tư pháp, TAND tỉnh, VKSND tỉnh; Sở Tài chính; Đại diện một số ngành thành viên: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Trung tâm TGPL nhà nước. Lãnh đạo Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn.

Nội dung kiểm tra liên quan đến kết quả tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10, chú trọng trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền được TGPL cho người tham gia tố tụng.

Qua kết quả kiểm tra, Hội đồng nhận thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành có thực hiện việc giải thích, thông báo về TGPL; niêm yết Bảng thông tin về TGPL, đặt Hộp tin TGPL; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL; thực hiện việc đăng ký bào chữa; đăng ký bảo vệ; giao các văn bản tố tụng cho người thực hiện TGPL theo quy định của Thông tư liên tịch số 10. Bảo đảm cho người thực hiện TGPL khi tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng và pháp luật về TGPL.

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại hai đơn vị được kiểm tra có thực hiện việc giải thích về quyền TGPL cho các đối tượng theo quy định. Thông báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thông báo lịch xét xử cho người thực hiện TGPL; ghi rõ ràng và cụ thể trong bản án, các quyết định về thông tin của người thực hiện TGPL và ghi rõ ý kiến hoặc quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thực hiện TGPL.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, Hội đồng đã chỉ ra những mặt còn hạn chế trong việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10. Cụ thể là Nhà Tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành chưa thực hiện việc niêm yết Tờ thông tin về TGPL trong buồng tạm giữ, buồng tạm giam theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 10, Thông tư liên tịch số 10. Có một số trường hợp chưa thực hiện việc giải thích, thông báo, thông tin TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Để tăng cường việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, Hội đồng cũng đã hướng dẫn cho các đơn vị được kiểm tra cũng như các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh thực hiện quy trình giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Ngoài ra, Hội đồng cũng đã đề nghị ngành thành viên của Hội đồng nghiêm túc thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Công văn 849/UBND-NCPC ngày 27/4/2020. Đối với các ngành thành viên là các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án: chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Thông tư liên tịch số 10 và các luật, bộ luật tố tụng có liên quan trong hệ thống của ngành; phát huy và thực hiện tốt vai trò là thành viên Hội đồng.

Công tác TGPL là một chính sách nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đặc biệt là những người nghèo, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh đặc biệt đồng thời cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đó thực hiện tốt công tác TGPL cũng như là thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước phân công./.

                                                          Ngọc Linh

11/5/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLBài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020/HoatDongAnh/2020-11/tgpl_Key_05112020085254.5_Key_05112020085254.11_Key_05112020085254.2020_Key_05112020085254.png
11/5/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025

Ngày 27 tháng 01 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025. Nghị định này quy định về các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 – 2025 và đối tượng áp dụng là hộ gia đình, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia công tác giảm nghèo và an sinh xã hội. Theo đó:

- Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 theo Nghị định quy định như sau: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ.

- Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025 sẽ thực hiện theo các tiêu chí:

+ Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng.

+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin; dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

+ Về chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Đối với khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

+ Về chuẩn hộ cận nghèo giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

+ Về chuẩn hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng; khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 7.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó tại khoản 7 Điều 4 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn; việc rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Thứ hai,  tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo đầu kỳ; rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025; phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hằng năm; xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình hằng năm.

Thứ ba, tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên địa bàn.

Thứ tư, căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể nâng tiêu chí thu nhập cao hơn chuẩn nghèo đa chiều quốc gia với điều kiện tự cân đối ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật và bổ sung tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (dịch vụ, chỉ số thiếu hụt), điều chỉnh ngưỡng đo lường các chỉ số thiếu hụt để thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2021.

Chí Hiếu

3/23/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngChuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025/HoatDongAnh/2021-03/7_Key_23032021151655.hong_Key_23032021151655.22_Key_23032021151655.3_Key_23032021151655.2020_Key_23032021151655.jpg
3/23/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 4)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất ONT diện tích 291,3m2; thửa số 1460; tờ bản đồ 27; tọa lạc tại: ấp Trâm Vàng 3, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 5.172.614.000 đồng. Tiền đặt trước: 517.262.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 19/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 22/4/2021 (thứ năm), tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Gò Dầu.

- Địa điểm đăng ký mua hồ sơ: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/1/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_01042021080041.jpg
4/1/2021 8:00 AMNoĐã ban hành
Quy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sưQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2019/TT-BTP). Thông tư số 02/2019/TT-BTP có hiểu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư.

Thông tư số 02/2019/TT-BTP có 5 chương, 21 điều, cụ thể: Chương I: quy định chung gồm 02 điều, từ Điều 1 đến Điều 2; Chương II: Thực hiện bồi dưỡng gồm 06 điều, từ Điều 3 đến Điều 8; Chương III: Quyền, trách nhiệm thực hiện bồi dưỡng và các mẫu giấy tờ kèm theo gồm 07 điều, từ Điều 9 đền Điều 15; Chương IV: Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo gốm 04 điều, từ Điều 16 đến Điều 19; Chương V: Tổ chức thực hiện gồm 02 điều, từ Điều 20 đến Điều 21. Sau đây là một vài nội dung cơ bản của Thông tư số 02/2019/TT-BTP.

Theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP, tùy vào yêu cầu bồi dưỡng bắt buộc hàng năm, nội dung bồi dưỡng bao gồm một hoặc một số nội dung sau:

- Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư;

- Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật;

- Kỹ năng hành nghề luật sư và kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động hành nghề luật sư;

- Kỹ năng quản trị tổ chức hành nghề luật sư.

Việc bồi dưỡng được tổ chức dưới hình thức khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư.

Đồng thời, tại Điều 5 Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định thời gian tham gia bồi dưỡng tối thiểu là 8 giờ/năm. Ngoài ra, Luật sư được tính quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng trong năm đó khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Viết bài nghiên cứu pháp luật được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước hoặc nước ngoài; viết sách, giáo trình được xuất bản về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư hoặc kỹ năng hành nghề luật sư;

- Tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật, cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia giảng dạy các khóa bồi dưỡng hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư theo quy định của Thông tư này;

- Tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo chức danh tư pháp;

- Tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài;

- Tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm từ 01 ngày trở lên về các nội dung theo quy định tại Điều 3 của Thông tư này do Sở Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức.

Luật sư tham gia bồi dưỡng được quy đổi trong các trường hợp nêu trên thì 01 lần tham gia và hoàn thành được tính bằng 08 giờ thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng.

Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định rõ các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm cụ thể như sau:

- Luật sư đang làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Nữ luật sư có con dưới 12 tháng tuổi được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm;

- Luật sư vì lý do bệnh tật có đơn đề nghị và được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư xác nhận;

- Luật sư từ đủ 70 tuổi trở lên và có trên 20 năm hành nghề luật sư;

- Luật sư phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh và thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên có Giấy chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Như vậy, Thông tư số 02/2019/TT-BTP đã quy định cụ thể, chi tiết nội dung, hình thức, thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc cũng như các trường hợp được quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc và các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, . . . đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ của Luật sư theo quy định của pháp luật./.

 

Phòng Bổ trợ Tư pháp

7/30/2019 8:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinBTTPQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư/HoatDongAnh/2019-07/bttpngay30_Key_30072019073426.07_Key_30072019073426.2019_Key_30072019073426.png
7/30/2019 8:00 AMYesĐã ban hành
Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025

Thực hiện Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 14/8/2020, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025 tại Quyết định số 1754/QĐ-UBND. 

Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (viết tắt DNNVV) được phê duyệt nhằm triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý, tạo chuyển biến căn bản về ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với DNNVV và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV trên địa bàn tỉnh được tiếp cận, sử dụng thông tin đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, được giải đáp pháp luật, cung cấp văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý của Nhà nước. Xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV đồng thời nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Chương trình được thực hiện đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh có nhu cầu cần được hỗ trợ thông tin pháp lý; Người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV; Các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Chương trình được thực hiện với các nội dung chính sau:

- Hoạt động cung cấp thông tin:

Xây dựng, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ hoạt động của doanh nghiệp. Xây dựng chuyên mục hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Cập nhật và đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh các bản án, quyết định của tòa án; phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; quyết định xử lý vi phạm hành chính liên quan đến doanh nghiệp được phép công khai, có hiệu lực thi hành mà Ủy ban nhân dân tỉnh là một bên có liên quan (nếu có); các văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp trong quá trình áp dụng chung về pháp luật.

Cập nhật và đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn do trung ương, địa phương ban hành liên quan đến doanh nghiệp. Cập nhật và đăng tải lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành liên quan đến doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Công bố, thông tin về kế hoạch, chương trình, dự án và các hoạt động khác có liên quan đến Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cung cấp các thông tin pháp luật trong nước, pháp luật nước ngoài, cảnh báo rủi ro pháp lý và các chính sách của ngành, lĩnh vực liên quan đến doanh nghiệp (nếu có).

- Hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật:

Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Hội doanh nghiệp tỉnh, Ban Quản lý khu kinh tế và các cơ quan đơn vị liên quan thực hiện hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật như: Xây dựng kế hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giới thiệu các nội dung cơ bản về các chính sách mới của Trung ương có liên quan đến hoạt động kinh doanh của DNNVV. Giới thiệu văn bản pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để tuyên truyền, phổ biến cho DNNVV các chủ trương, chính sách đặc thù của tỉnh. Biên soạn nội dung tài liệu hỗ trợ pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp theo chuyên đề hoặc các chính sách pháp luật có liên quan đến kinh doanh mà các doanh nghiệp thường gặp trong quá trình kinh doanh.

Doanh nghiệp chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật; các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan tổ chức thực hiện phổ biến pháp luật trong doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động, các hoạt động kinh doanh của DNNVV.

- Hoạt động tư vấn pháp luật:

Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại với DNNVV để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Các cơ quan quản lý chuyên ngành có trách nhiệm trả lời kiến nghị khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, gửi kết quả về Sở Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh tại buổi đối thoại gần nhất.

Giải quyết các vướng mắc pháp lý và hoạt động tư vấn pháp luật khác cho DNNVV: Doanh nghiệp có thể đến trực tiếp hoặc gửi văn bản qua mạng điện tử hoặc gọi điện thoại đến Hội Doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện để được giải quyết các vướng mắc pháp lý và các hoạt động tư vấn pháp luật khác. Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc giải quyết các vướng mắc pháp lý và các hoạt động tư vấn pháp luật khác phải phù hợp với quy định pháp luật trên cơ sở nhu cầu của DNNVV trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình.

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp:

Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và các văn bản có liên quan không còn phù hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới các văn bản thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình.

Trên cơ sở các nội dung của Chương trình, Chủ tịch UBND tỉnh giao: Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai các hoạt động theo Chương trình đã được phê duyệt; Chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chương trình này và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung Chương trình này./.

                                                                                     Kim Ngọc


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLChương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103144.8_Key_25082020103144.2020_Key_25082020103144.1_Key_25082020103144.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệpSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Được sự hỗ trợ kinh phí của Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 - Bộ Tư pháp, ngày 20 tháng 10 năm 2020, tại hội trường Thành ủy thành phố Tây Ninh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị tập huấn "Bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức và người thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh trong doanh nhiệp".

Tại Hội nghị đại diện lãnh đạo các Sở, ban, ngành tỉnh; chuyên viên Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh phụ trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Cán bộ pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và các doanh nghiệp các đơn vị có liên quan được giao làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Đoàn Luật sư, Hội Luật gia, Hội Công chứng, Hội doanh nghiệp tỉnh được nghe Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình – Cục trưởng Cục công tác phía Nam trình bày các nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh năm 2018; Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Cạnh tranh; 

xlvpphc.ngoc1.jpg

Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Chính sách của nhà nước về cạnh tranh và trách nhiệm phối hợp thực hiện biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh.

Qua Hội nghị giúp cho các đồng chí tham dự nắm bắt được những nội dung cơ bản về pháp luật cạnh tranh trong doanh nghiệp; trang bị một cách có hệ thống kiến thức pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm và được giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc pháp lý trong thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.

xlvpphc.ngoc2.jpg

Tóm lại, hoạt động này nhằm cung cấp đầy đủ, có hệ thống và cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hỗ trợ pháp lý cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng và người thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 55/2019/NĐ-CP. Đồng thời, thúc đẩy công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đáp ứng mục tiêu của Chương trình 585; triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh./.

                                                                                      KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp/HoatDongAnh/2020-11/xlvpphc_Key_03112020144029.ngoc1_Key_03112020144029.jpg
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thị xã Hòa Thành, như sau:

1) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 286,9m2, thửa số 280, tờ bản đồ số 15, tại Khu phố Long Chí, Phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 4.039.583.653 đồng. 

- Tiền đặt trước: 403.959.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 322,4m2, thửa số 01, tờ bản đồ số 25, tại Khu phố Hiệp An, Phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 11.202.263.008 đồng. 

- Tiền đặt trước: 1.120.227.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

* Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

* Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

* Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 12/4/2021 (thứ hai). 

* Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 15/4/2021 (thứ năm).

* Liên hệ Người có tài sản để xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

* Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


3/19/2021 11:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-03/hinh dau gia 3_Key_19032021104328.jpg
3/19/2021 11:00 AMNoĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020

Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh được thành lập từ tháng 4/1998 theo Quyết định số 23/1998/QĐ-CT ngày 17/4/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định và TGPL cho nhiều đối tượng. Để phù hợp với các văn bản pháp luật cũng như tình hình thực tiễn của địa phương, Trung tâm TGPL đã qua hai lần kiện toàn (Quyết định số 2960/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 và Quyết định số 338/QĐ-UBND ngày 16/02/2011).

Trung tâm hiện tại có 02 Phòng gồm Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ. Trung tâm có chức năng thực hiện TGPL miễn phí cho người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo, người có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Trong 5 năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh đã tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do Sở Tư pháp phát động, công tác TGPL trên toàn quốc nói chung và tại tỉnh Tây Ninh nói riêng đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường triển khai thực hiện chương trình xóa nghèo về pháp luật của Đảng và Nhà nước ta dành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội. TGPL đã thật sự mang một màu sắc mới và đang từng ngày thay da đổi thịt, đã góp phần thiết thực trong việc bảo đám quyền công dân, quyền con người trong tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hàng triệu người có vướng mắc pháp luật.

Từ năm 2015 – 2020, trên cơ sở kế hoạch công tác TGPL được được Sở Tư pháp phê duyệt, Trung tâm TGPL nhà nước bám sát vào kế hoạch để triển khai thực hiện, trong giai đoạn 2015-2020, tổng số vụ việc tiếp nhận thực hiện TGPL là 2.734 vụ việc (trong đó tham gia tố tụng hàng năm từ 200 – 250 vụ, việc), tư vấn pháp luật những vụ việc đơn giản và giải đáp những thắc mắc cho hơn 1.000 lượt người tại trụ sở và thông qua các đợt truyền thông về công tác TGPL; tổ chức 03 đợt tập huấn nghiệp vụ TGPL và triển khai văn bản pháp luật, có 377 người; tổ chức 265 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở.

Ngoài ra, hàng năm Trung tâm còn phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức từ 05 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở, tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc theo quy định. Xây dựng quy trình lựa chọn luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với 10 luật sư trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Tổ chức biên soạn và in ấn nhiều loại tài liệu pháp luật, bảng thông tin TGPL để cấp phát cho Nhân dân trong các đợt truyền thông và các cơ quan liên quan như: Trường học, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Bảo trợ xã hội.

Những năm gần đây, tỷ lệ vụ án có Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL ngày càng tăng, chiếm số lượng từ 70 - 80%  số vụ việc TGPL mà Trung tâm thụ lý. Tất cả các Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm tham gia tố tụng đều đạt chỉ tiêu khá trở lên theo quy định của Bộ Tư pháp.

Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý luôn thực hiện nhiệm vụ với tinh thần nhiệt huyết, quyết tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL một cách tốt nhất, đã và đang đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng trong những vụ việc bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa theo quy định, từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình, tạo được niềm tin của Nhân dân đối với chính sách TGPL.

Để ghi nhận thành tích đã đạt được, liên tục trong nhiều năm liền, Trung tâm đều được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là tập thể lao động xuất sắc, từ năm 2015 đến nay Trung tâm 02 lần được Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua, được tặng 04 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Từ những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua, vào ngày 18/8/2020 tại Đại hội Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ 5 được tổ chức tại Hội trường Tỉnh ủy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng. Cũng tại Đại hội này, đồng chí Lê Minh Hiền, Giám đốc Trung tâmTrợ giúp pháp lý nhà nước được vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng.

Hy vọng Trung tâm ngày càng phát triển để trở thành cầu nối giữa Nhà nước với Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước./.

                                                        Ngọc Linh – Trung tâm TGPL nhà nước

8/24/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinThông báoTrung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020/HoatDongAnh/2020-08/huanchuongtgpl_Key_25082020083730.jpg
8/24/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tếHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế

Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp hướng tới đạt mục tiêu năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp, năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp và năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị TW 5 Khóa XII, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 35, Nghị quyết số 19 năm 2016 - 2017 - 2018, Nghị quyết số 02 năm 2019 về cải thiện môi trường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó đưa ra các giải pháp đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều địa phương đã duy trì và nâng cao chất lượng cơ chế đối thoại chính sách để tháo gỡ khó khăn về chính sách liên quan đến lao động, đất đai, vốn, thuế, hải quan...

Tuy nhiên, năng lực nội tại của các DNNVV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: đa số các DNNVV có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động sản xuất còn nhỏ lẻ manh mún; thiếu vắng sự liên kết, đặc biệt liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa và lớn; năng xuất trong khu vực DNNVV thấp, năng lực cạnh tranh, thích nghi với thị trường còn yếu; máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu...

Từ góc nhìn của tổ chức đại diện doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy, mặc dù cơ chế chính sách đã được ban hành nhiều, tương đối đầy đủ, nhưng chậm được triển khai đã làm mất đi tính cơ hội, lạc hậu so với tình hình thực tiễn, nên phải điều chỉnh bổ sung nhiều đã làm ảnh hưởng đến khu vực doanh nghiệp dân doanh. Bên cạnh đó, một số các cấp chính quyền địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra chính sách, nguồn lực cụ thể để triển khai, mặc dù cơ chế đã có.

Để các quy định của Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thực sự được triển khai trên thực tế, đi vào cuộc sống, trong phạm vi bài viết, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Phải xác định hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là một hoạt động cơ bản, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp, các ngành. Hoạt động này xuất phát từ bối cảnh thực tế hiện nay, khi nhận thức pháp luật của khu vực kinh tế dân doanh còn nhiều hạn chế, chủ sở hữu, người quản lý trong doanh nghiệp chưa hình thành thói quen tuân thủ pháp luật, chế tài xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm minh, chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, thực thi pháp luật chưa đạt hiệu quả.

Thứ hai: Nhu cầu hỗ trợ pháp lý và tư vấn pháp luật của khu vực DNNVV rất nhiều, phong phú và đa dạng, điều này, xuất phát từ quyền tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp. Trong khi đó, nguồn lực Nhà nước lại có hạn, hỗ trợ pháp lý chỉ là một hoạt động trong tổng thể các hoạt động hỗ trợ DNNVV. Để tránh lãnh phí, tràn lan, nhưng không đem lại hiệu quả thiết thực, Nhà nước cần xác định rõ các nội dung, hoạt động nào Nhà nước hỗ trợ, nội dung, hoạt động nào doanh nghiệp phải thực hiện thuê dịch vụ pháp lý để phòng ngừa rủi ro theo quy luật của thị trường.

Thứ ba: Trong khi cơ cấu, tổ chức, cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong các cơ quan Nhà nước hiện nay chưa ổn định, sự quan tâm của các cấp chính quyền chưa đồng đều, Nghị định 55/2019/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP đã quy định về cơ chế thiết lập mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ cho DNNVV. Vì vậy, các bộ ngành, địa phương cần sớm triển khai cơ chế này, đây có thể được coi là một cơ chế hữu hiệu để triển khai các hoạt động hỗ trợ cho DNNVV một cách hiệu quả. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy, Nhà nước cần chủ động hướng dẫn, xây dựng tiêu chí, công nhận tư cách của mạng lưới, bố trí kinh phí để duy trì, khuyến khích bồi dưỡng, giám sát, kiểm tra mạng lưới tư vấn viên. Đây cũng được coi là cơ chế để đội ngũ luật sư, luật gia tham gia sâu rộng vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Thứ tư: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, những thành quả của kỹ thuật số vào trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV. Thực tế, những người quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp rất bận. Vì vậy, những cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo phương thức truyền thống cần có sự thay đổi mạnh mẽ, nắm sát đặc điểm tâm lý, đặc thù của doanh nghiệp, chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ năm: Cần có phân loại, phân nhóm các loại hình DNNVV để có các chuyên đề, chương trình hỗ trợ cho phù hợp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất, chế biến, chế tạo có nhu cầu hỗ trợ khác với doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thương mại dịch vụ.

Thứ sáu: Cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung, công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV nói riêng. Thực tế cho thấy, để thay đổi thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV, chúng ta phải nhìn tổng thể để có các giải pháp thay đổi trên các bình diện về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, ý thức phục vụ của tổ chức, cá nhân thừa hành công vụ, tính nghiêm minh bình đẳng của thi hành pháp luật./.

                                                                     Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam 


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103622.8_Key_25082020103622.2020_Key_25082020103622.2_Key_25082020103622.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Quy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triểnQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Ngày 30/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (viết tắt là Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg).

Theo đó, các Phụ lục kèm theo Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg quy định có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Trong trường hợp công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao không thuộc các Danh mục như đã nêu tại Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg, nhưng đáp ứng các quy định khác tại Luật Công nghệ cao, có tính cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021 và thay thế Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, Quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Quyết định số 34/2019/QĐ-TTg ngày 18/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định tiêu chí xác định dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ./.

                                                                   Phòng XDKT&QLTTPL

 

QĐ số 38_2020_QD-TTg.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinKim NgọcQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021142907.1_Key_03022021142907.2021_Key_03022021142907.13_Key_03022021142907.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kếtQuy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết

Ngày 05 tháng 11 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 12 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.

Nghị định này quy định nguyên tắc, phương pháp, trình tự xác định yếu tố hình thành giá giao dịch liên kết; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong xác định giá giao dịch liên kết, thủ tục kê khai; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết.

Các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.

Về nguyên tắc áp dụng, người nộp thuế có giao dịch liên kết phải loại trừ các yếu tố làm giảm nghĩa vụ thuế do quan hệ liên kết chi phối, tác động để kê khai, xác định nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch liên kết tương đương với các giao dịch độc lập có cùng điều kiện.

Cơ quan thuế quản lý, kiểm tra, thanh tra đối với giá giao dịch liên kết của người nộp thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập và bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế tương ứng với giá trị tạo ra từ bản chất giao dịch, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không công nhận các giao dịch liên kết không theo nguyên tắc giao dịch độc lập làm giảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước và thực hiện điều chỉnh giá giao dịch liên kết đó để xác định đúng nghĩa vụ thuế quy định của Nghị định này.

Tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

Nghị định quy định cụ thể về xác định chi phí để tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Trong đó nêu rõ tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết:

a) Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế;

b) Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ;

c) Quy định tại điểm a không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng; tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm; các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác);

d) Người nộp thuế kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay trong kỳ tính thuế theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20 tháng 12 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020. Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 và Nghị định số 68/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết hết hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 12 năm 2020./.

11/26/2020 10:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết/HoatDongAnh/2020-12/thanhtra_Key_01122020092948.29_Key_01122020092948.10_Key_01122020092948.2020_Key_01122020092948.2_Key_01122020092948.png
11/26/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuếQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2020/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế (viết tắt là Nghị định số 100/2020/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Theo đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế.

Về đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế được quy định tại Điều 3 Nghị định số 100/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

- Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

- Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa; khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế; khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.

- Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

Bên cạnh đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP cũng quy định rõ chính sách đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế có liên quan.

Đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế gồm: đồng Việt Nam; đồng USD, euro; đồng tiền của nước có chung biên giới đất liền với địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới; đồng tiền của quốc gia nơi các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thực hiện nhập cảnh, quá cảnh tại quốc gia đó.

                                                                                                    KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc03_Key_03112020143313.11_Key_03112020143313.2020_Key_03112020143313.1_Key_03112020143313.png
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next