Tin tức - Rà soát, hệ thống hóa VBQPPL
 
​Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/3/2021, HĐND và UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 08 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 01 Nghị quyết và 07 Quyết định. Cụ thể:Về Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có 01 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 23/3/2021 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tỉnh và chính sách hỗ ...
 
​Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (viết tắt là Luật năm 2015); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Luật năm 2020); kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình tại Hội nghị công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 và trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính ...
 
Thực hiện Kế hoạch số 2843/KH-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Ngày 19 tháng 01 năm 2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ và hết ...
 
​Ngày 30/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (viết tắt là Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg). Theo đó, các Phụ lục kèm theo Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg quy định có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 107 sản phẩm công nghệ cao được ...
 
​Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.Theo đó, Nghị định ...
 
​Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.Trước đây, tại ...
 
​Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.Theo đó, một trong ...
 
​Thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Ngày      08 tháng 01 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành ...
 
​Trên cơ sở Kế hoạch về theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh[1] của Ủy ban nhân dân tỉnh, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2020 đã được các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả và đã đạt được một số kết quả như sau: Thứ nhất, về tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết thuộc thẩm quyền. Trong năm 2020, ...
 
​Trong thời gian qua, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thi hành pháp luật đã được các cấp ủy đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều thành quả quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới, công tác xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật vẫn còn hạn chế, bất cập. Hệ thống pháp ...
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021Tây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021

Từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/3/2021, HĐND và UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành 08 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 01 Nghị quyết và 07 Quyết định. Cụ thể:

Về Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh có 01 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐND ngày 23/3/2021 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ban hành chuẩn hộ nghèo tỉnh và chính sách hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận đa chiều tỉnh Tây Ninh giai đọn 2017-2020. Theo đó Nghị quyết quy định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND ngày 13/7/2017 theo chuẩn quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 đến hết ngày 31/12/2021.

Về quyết định của UBND tỉnh có 07 quyết định, gồm:

Quyết định số 01/2021/QĐ-UBND ngày 06/01/2021 quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021. Quyết định gồm 06 Điều trong đó có quy định về: Hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2021 chung cho tất cả các loại đất ở các khu vực nông thôn, khu vực đô thị, Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài và Khu kinh tế Cửa khẩu Xa Mát; các trường hợp áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 01 năm 2021 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2021 và thay thế Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020 và Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc sửa đổi, bổ sung Điều 1 Quyết định số 55/2019/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định hệ số điều chỉnh giá đất để tính giá đất cụ thể trên địa bàn tỉnh Tây Ninh năm 2020.

Quyết định số 02/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành quy định mật độ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2030. Theo đó mật độ chăn nuôi tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh được quy định như sau: (i) Thành phố Tây Ninh: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,26 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,40 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ii) Thị xã Hòa Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,39 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 0,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iii) Thị xã Trảng Bàng: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 1,08 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (iv) Huyện Châu Thành: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,91 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (v) Huyện Dương Minh Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,97 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vi) Huyện Tân Châu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,65 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,80 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (vii) Huyện Tân Biên: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,53 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (viii) Huyện Gò Dầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,41 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,00 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp; (ix) Huyện Bến Cầu: Mật độ chăn nuôi năm 2021 là 0,93 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp, mật độ chăn nuôi đến năm 2030 không vượt quá 1,50 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Tại địa bàn cấp huyện có mật độ chăn nuôi đã đạt tới quy định thì chỉ cho đầu tư đối với những dự án chăn nuôi phù hợp chiến lược phát triển chăn nuôi, công nghệ chăn nuôi và môi trường sinh thái nhưng phải đảm bảo mật độ chăn nuôi trên toàn tỉnh không vượt quá 1,5 ĐVN/01 ha đất nông nghiệp. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021.

Quyết định số 03/2021/QĐ-UBND ngày 18/01/2021 ban hành Quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh. Theo đó Quy chế quy định về nguyên tắc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, trình tự giải quyết công việc và quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh; các thành viên UBND tỉnh, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn, cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ làm việc với UBND tỉnh chịu sự điều chỉnh của Quy chế này. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày 28 tháng 01 năm 2021, thay thế Quyết định số 38/2016/QĐ-UBND ngày 20/10/2016 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc ban hành Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND ngày 28/01/2021 phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Trong đó quyết định một số nội dung phân cấp nổi bật cho UBND cấp huyện như: Thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; tổ chức kiểm tra, giám sát và xử lý hành vi vi phạm các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn đối với các đối tượng được phân cấp quản lý; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng danh sách các cơ sở sản xuất, kinh doanh chưa đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm thuộc phạm vi phân cấp quản lý; lưu trữ có hệ thống các hồ sơ liên quan đến hoạt động kiểm tra việc thực hiện nội dung đã cam kết, thẩm định các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi phân cấp quản lý; thực hiện chế độ báo cáo tình hình quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nông lâm thủy sản trên địa bàn theo phân cấp quản lý, định kỳ trước ngày 01 của tháng cuối quý hoặc đột xuất theo yêu cầu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để theo dõi, tổng hợp và báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/02/2021 và thay thế Quyết định số 46/2017/QĐ-UBND ngày 20 tháng 12 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về phân cấp quản lý nhà nước đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

          Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND ngày 18/3/2021 sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 2 Quyết định số 35/2017/QD-UBND ngày 13 tháng 10 năm 2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc quy định giá dịch vụ tối đa sử dụng phà trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Theo đó quyết định đã sửa đổi quy định "Tổ chức và cá nhân thu giá dịch vụ sử dụng phà không do nhà nước đầu tư có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định hiện hành". Quyết định này được ban hành theo trình tự thủ tục rút gọn và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/3/2021.

          Quyết định số 06/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định về tổ chức, chế độ, chính sách và trang bị đối với lực lượng Bảo vệ dân phố trên địa bàn tỉnh. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021 và thay thế các Quyết định số 07/2012/QĐ-UBND, Quyết định số 12/2013/QĐ-UBND, Quyết định số 63/2014/QĐ-UBND, Quyết định số 20/2019/QĐ-UBND.

          Quyết định số 07/2021/QĐ-UBND ngày 30/3/2021 ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu, tổ chức của Ban quản lý Vườn Quốc gia Lò gò – Xa mát. Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 10/4/2021./.

Thu Hồng

PHÒNG XDKT&QLVTTVPL-Sở Tư pháp

4/2/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinThu HồngTây Ninh ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong quý I/2021/HoatDongAnh/2021-04/2_Key_02042021143150.hong_Key_02042021143150.22_Key_02042021143150.3_Key_02042021143150.2020_Key_02042021143150.jpg
4/2/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Một số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sưMột số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sư

-CP ngày 14 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 9 năm 2013 của Chính phủ.

          Theo đó các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp trong đó có hoạt động luật sư được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP thay thế toàn bộ các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động luật sư về số lượng, vị trí các điều được quy định tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP vẫn giữ nguyên như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP cụ thể gồm 04 điều, từ Điều 5 đến Điều 8 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP (Nghị định số 110/2013/NĐ-CP cũng quy định 04 điều, từ Điều 5 đến Điều 8). Tuy nhiên, về nội dung có rất nhiều điểm mới so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Trong đó, có các điểm mới nội bật sau:

Thứ nhất: Mức xử phạt và hình thức xử phạt

  • Về mức xử phạt: Theo quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động luật sư thấp nhất là 1.000.000 đồng, cao nhất là 50.000.000 đồng; còn theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP mức thấp nhất là 500.000 đồng, mức cao nhất 40.000.000 đồng. Đồng thời, các quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính đối với từng hành vi cụ thể của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng được quy định cao hơn rất nhiều so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
  • Về hình thức xử phạt: Theo quy định của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP hình thức xử phạt trong hoạt động luật sư có 02 hình thức xử phạt chính đó là phạt tiền và tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư; hình phạt tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung, nếu là hình phạt chính thì thời hạn tước tối thiểu là 06 tháng và tối đa là 12 tháng, nếu là hình phạt bổ sung thì thời hạn tước tối thiểu là 01 tháng và tối đa là 03 tháng. Hiện nay, theo quy định của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP các hành vi vi phạm trong hoạt động luật sư chỉ còn 01 hình thức xử phạt chính đó là phạt tiền; còn hình thức xử phạt về tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt bổ sung thời hạn tước tối thiểu là 01 tháng và tối đa là 09 tháng.

    Thứ hai: Về hành vi vi phạm
  • Nhằm đảm bảo phù hợp với sự phát triển các mối quan hệ xã hội cũng như phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành trong lĩnh vực luật sư và các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan đến hoạt động của luật sư, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định bổ sung nhiều hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, cụ thể:

+ Tại Điều 5 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định bổ sung các hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; gia nhập Đoàn luật sư; giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam. Đối với hành vi tẩy xoá, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy tờ, văn bản do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cấp trong hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; gia nhập Đoàn luật sư, giấy đăng ký hoạt động của chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Trước đây tại Điều 5 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định xử phạt đối với các hành vi này, chỉ quy định xử phạt các hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam; hồ sơ đề nghị cấp giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư; hồ sơ đề nghị cấp giấy phép thành lập chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài, chi nhánh của công ty luật nước ngoài tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định đối với hành vi khai không trung thực, che giấu thông tin của cá nhân, tổ chức trong hồ sơ đăng ký tập sự hành nghề luật sư; đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề, giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam của luật sư nước ngoài, giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Đây cũng là một hành vi mới trước đây Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định và với mức phạt tiền của hành vi này cũng rất cao.

+  Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định về các "hành vi vi phạm quy định đối với hoạt động nghề luật sư" cũng được bổ sung thêm nhiều hành vi vi phạm mới bị xử phạt vi phạm hành chính mà trước đây Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không quy định, ví dụ như:

Hành vi không tham gia hoặc tham gia không đầy đủ nghĩa vụ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ; thông báo không đúng thời hạn cho Đoàn luật sư về việc đăng ký hành nghề, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Đối với hành vi làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức khác bằng hình thức luật sư hành nghề với tư cách cá nhân ngoài tổ chức hành nghề luật sư mà luật sư đã thành lập, tham gia thành lập hoặc đã ký hợp đồng lao động; hành nghề luật sư không đúng hình thức hành nghề theo quy định; hành nghề luật sư với tư cách cá nhân mà không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận; ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng không thông qua tổ chức hành nghề luật sư hoặc không có văn bản ủy quyền của tổ chức hành nghề luật sư thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Đặc biệt Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định luật sư có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng…; ứng xử, phát ngôn hoặc có hành vi làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của nghề luật sư hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, đây là điểm mới nổi bật so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP và mức xử phạt cho hành vi vi phạm này rất cao.

+ Đối với nhóm "hành vi vi phạm quy định đối với hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư" quy định tại Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP được bổ sung mới một số hành vi sau:

Đăng báo không đúng thời hạn hoặc số lần về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Đối với hành vi không đăng báo, thông báo về việc thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam; nhận người không đủ điều kiện tập sự hành nghề luật sư vào tập sự hành nghề tại tổ chức mình; không nhận người tập sự hành nghề luật sư theo phân công của Đoàn luật sư mà không có lý do chính đáng; không cử đúng người làm việc hoặc không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, không chính xác, chậm trễ thông tin, giấy tờ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

+ Đặc biệt nhóm "hành vi vi phạm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư" quy định tại Điều 8 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định thêm rất nhiều hành vi vi phạm mới so với Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, cụ thể là các hành vi được quy định tại điểm c, điểm d khoản 2 và các hành vi được quy định từ điểm b cho đến điểm g khoản 3 Điều 8 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP

  • Ngoài việc quy định thêm mới nhiều hành vi vi phạm hành chính, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không còn quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi liên quan đến việc sử dụng, làm giả các giấy tờ trong việc cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, đăng ký hành nghề luật sư, cấp giấy phép hành nghề luật sư, giấy chứng nhận về việc tham gia tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư; cấp giấy đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động, giấy phép thành lập cho các tổ chức hành nghề luật sư được quy định tại các khoản 2, khoản 3 Điều 5, điểm d khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều 6, điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 7 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.
  • Bên cạnh đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP phân định rõ mức độ vi phạm của hành vi không thực hiện và có thực hiện nhưng thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác để có mức xử phạt tương ứng với hành vi vi phạm như: khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định đối với các hành vi thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác thì mức phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; khoản 2 Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đối với các hành vi không thực hiện thì mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Còn tại khoản 1 Điều 7 của Nghị định số 110/2013/NĐ-CP không phân định rõ mức độ vi phạm của hành vi không thực hiện và có thực hiện nhưng thực hiện không đúng thời hạn, không đầy đủ nội dung hoặc không chính xác mà quy định 02 hành vi này chung một mức xử phạt.
  • Ngoài ra, tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt chính. Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định hình phạt tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc giấy phép hành nghề luật sư là hình phạt bổ sung. Vì vậy, các hành vi vi phạm được quy định tại khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP được quy định tại khoản 7 Điều 6 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP áp dụng hình thức xử phạt tiền là hình thức xử phạt chính và mức xử phạt tương đối cao.

    Thứ ba: Biện pháp khắc phục hậu quả

    Nghị định số 82/2020/NĐ-CP không còn quy định việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi liên quan đến việc sử dụng, làm giả các giấy tờ trong hoạt động luật sư như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP, mà chỉ quy định các hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung các giấy tờ trong hoạt động luật sư. Do đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP cũng không còn quy định việc hủy bỏ các giấy tờ giả là một biện pháp khắc phục hậu quả như Nghị định số 110/2013/NĐ-CP. Thay vào đó, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định biện pháp khắc phục hậu quả là kiến nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xem xét, xử lý đối với giấy tờ, văn bản bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung được quy định tại khoản 4 Điều 5 và điểm a, điểm b khoản Điều 7 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP.

    Nhìn chung Nghị định số 82/2020/NĐ-CP đã quy định hình thức xử phạt, mức xử phạt, các hành vi vi phạm bị xử phạt vi phạm hành chính phù hợp với tính chất, mực độ vi phạm của các hành vi và phù hợp với sự phát triển các mối quan hệ xã hội hiện nay./.

     
                                                              Phòng Hành chính và Bổ trợ tư pháp
11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Luật sưTinHCTPMột số điểm mới cơ bản quy định xử phạt vi phạm  hành chính trong hoạt động luật sư/HoatDongAnh/2020-11/luat su_Key_03112020142432.jpg
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây NinhNhững khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh

Trong thời gian qua công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã đạt được những kết quả nhất định: thông qua các Hội nghị tập huấn của ngành đã phổ biến các quy định về pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp; xây dựng hệ cơ sở dữ liệu các văn bản quy phạm pháp luật để cập nhật các văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tra cứu văn bản, tiếp cận thông tin về các chế độ chính sách của tỉnh đối với doanh nghiệp,…Từ đó, nhận thức của các doanh nghiệp đối với việc hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp ngày càng nâng lên.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên địa bàn tỉnh về công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, Sở Tư pháp đã xây dựng "Đề án tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh" để đăng ký tham gia tổ chức hoạt động năm 2020 của Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 Bộ Tư pháp (Chương trình 585) và đã được Bộ Tư pháp phê duyệt danh sách cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện các hoạt động năm 2020 của Chương trình 585 - Bộ Tư pháp, với nội dung chuyên đề: "Bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh trong doanh nghiệp". 

Bên cạnh những kết quả đạt được, địa phương vẫn còn một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nói chung và triển khai thực hiện Nghị định số 55/2019/NĐ-CP nói riêng, cụ thể:

- Từ khi Nghị định số 55/2019/NĐ-CP có hiệu lực thi hành đến nay, địa phương chưa nhận được văn bản hướng dẫn chi tiết triển khai thực hiện, do đó việc tham mưu triển khai hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong phạm vi địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 12 còn chậm ban hành.  

- Việc cải cách thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp còn nhiều bất cập; các doanh nghiệp chưa chủ động trong việc đề nghị hỗ trợ pháp lý, chưa tích cực tham gia các lớp tập huấn khi được mời; tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi tham gia các chương trình hỗ trợ pháp lý.

- Đội ngũ cán bộ, nhân viên của các doanh nghiệp còn hạn chế trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng pháp luật; đội ngũ cán bộ phụ trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm, chưa được thường xuyên bồi dưỡng về nghiệp vụ nên đôi lúc còn lúng túng trong việc hỗ trợ pháp lý khi doanh nghiệp có yêu cầu.

- Kinh phí chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra; cơ chế, chính sách dành cho cơ quan thực hiện hỗ trợ pháp lý chưa rõ ràng./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

8/7/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLNhững khó khăn, vướng mắc trong hoạt động hỗ trợ pháp lý  cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh/HoatDongAnh/2020-08/xlvphc06_Key_07082020102052.8_Key_07082020102052.2020_Key_07082020102052.4_Key_07082020102052.jpg
8/7/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lýỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lý

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện các quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được tiến hành sâu rộng trong ban ngành, đoàn thể, địa phương và Nhân dân. Công tác trợ giúp pháp lý (viết tắt là TGPL) cơ bản đáp ứng được nhu cầu TGPL của người nghèo, đối tượng chính sách và đối tượng yếu thế khác trong xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác TGPL thời gian qua chưa thật sự thu hút được các nguồn lực xã hội tham gia; trong khi đối tượng thuộc diện được TGPL và nhu cầu thụ hưởng TGPL ngày càng được mở rộng và tăng cao. Một số đối tượng thuộc diện được TGPL chưa được tiếp cận với dịch vụ TGPL miễn phí như người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, một số nhóm đối tượng có khó khăn về tài chính.

Để tiếp tục thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng và triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung theo Chương trình số 01-CTr/BCĐ ngày 27/3/2020 của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh về trọng tâm công tác cải cách tư pháp năm 2020, ngày 27/4/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Công văn số 849/UBND-NCPC chỉ đạo tăng cường công tác TGPL.

Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố như sau:

- Sở Tư pháp có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý nhà nước về công tác TGPL; chủ trì, phối hợp với các ngành, các cấp tổ chức xây dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch có liên quan đến công tác TGPL phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương theo từng giai đoạn. Tăng cường truyền thông về công tác TGPL cho Nhân dân trên địa bàn tỉnh, tăng cường việc tiếp cận đối tượng thuộc diện được TGPL bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng nhằm nâng cao ý thức về tầm quan trọng của công tác TGPL; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với chính sách TGPL. Tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng TGPL cho người thực hiện TGPL; cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; các tổ chức và cá nhân có liên quan.

Đồng thời Sở Tư pháp cần phát huy vai trò của cơ quan thường trực Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, chủ trì và phối hợp với các ngành là thành viên Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

- Sở Tài chính căn cứ quy định của pháp luật tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí cho công tác TGPL; kinh phí cho hoạt động của Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh hiệu quả, tiết kiệm.

- Sở Thông tin và Truyền thông, Báo Tây Ninh, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác TGPL, tăng thời lượng phát sóng, thường xuyên đưa tin, bài viết về Luật TGPL năm 2017, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật TGPL, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC để giúp người dân tiếp cận và thụ hưởng các chính sách về TGPL.

- Sở Lao động, Thương binh và Xã hội định kỳ rà soát, tổng hợp số liệu của trẻ em, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật và các đối tượng khác theo quy định tại Điều 7 của Luật TGPL năm 2017 đang quản lý theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và thông tin cho Sở Tư pháp biết.

Thông qua các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của mình thông tin cho Nhân dân biết về chính sách TGPL của Đảng và Nhà nước, kịp thời nắm bắt nhu cầu TGPL của người dân để hướng dẫn họ tiếp cận với chính sách TGPL (qua Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp).

Phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức truyền thông về công tác TGPL cho người được TGPL theo quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017 mà Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đang quản lý để họ hiểu rõ về quyền được TGPL và thụ hưởng dịch vụ TGPL miễn phí khi có yêu cầu.

- Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo Hội đồng Phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cùng cấp thường xuyên quan tâm phối hợp với ngành Công an, Kiểm sát, Tòa án tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về Luật TGPL năm 2017, Nghị định 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Chỉ đạo các đơn vị có liên quan tích cực phối hợp, hỗ trợ Trung tâm TGPL nhà nước triển khai các hoạt động TGPL trên địa bàn; tích cực hướng dẫn người được TGPL tiếp cận, thụ hưởng dịch vụ pháp lý của Nhà nước.

- Đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Toà án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC và các luật, bộ luật tố tụng có liên quan trong hệ thống của ngành; phát huy và thực hiện tốt vai trò là thành viên Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh.

- Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh phối hợp công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục Luật TGPL năm 2017, Nghị định 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC.

Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành theo dõi, kiểm tra việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện cho Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp - Tỉnh ủy Tây Ninh theo quy định./. 

                                                        Ngọc Linh

5/18/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinThông báoỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo tăng cường công tác trợ giúp pháp lý/HoatDongAnh/2020-05/tgpl_Key_18052020140446.jpg
5/18/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Tình người nơi pháp đìnhTình người nơi pháp đình

Gia đình là nơi hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tâm hồn cho trẻ em để mai sau thành những công dân sống có ích cho xã hội, là nơi rèn giũa để các em phát triển lành mạnh theo năm tháng. Nhưng hiện nay, vấn đề ly hôn, ly thân, bỏ bê con cái đang diển ra ngày càng nhiều, đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc gia tăng tội phạm vị thành niên, là ghánh nặng cho cộng đồng và kéo theo những hệ lụy liên quan đến tệ nạn xã hội gia tăng đáng báo động.

Như vụ án "Trộm cắp tài sản" được Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vào sáng ngày 14/5/2020 cũng xuất phát từ việc gia đình, cha mẹ thiếu quan tâm dẫn đến con mình sinh ra lâm vào hoàn cảnh trộm cắp. Pháp luật tuy có tính chất nghiêm khắc, giáo dục tội phạm nhưng kết thúc bằng bản án thể hiện tính nhân văn sâu sắc tại chốn pháp đình.

Theo cáo trạng của VKSND huyện Gò Dầu truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Hùng vào khoảng 22 giờ, ngày 20/9/2019, tại khu vực thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Văn Cường do thiếu nợ của Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng, không có tiền trả đã nảy sinh ý định lấy trộm 01 cây bông trang dạng bonsai trị giá 11.300.000 đồng của anh Nguyễn Nguyên Bảo Thắng.

Khi được Hội đồng xét xử thẩm tra về lý lịch, bị cáo Nguyễn Văn Cường, sinh năm 2003 khai báo về hoàn cảnh gia đình, từ lúc sinh ra cho đến tận ngày hôm nay bị cáo không hề biết gì về mẹ ruột, bị mẹ bỏ rơi từ nhỏ không có vòng tay che chở, lơi ấm từ mẹ. Sống cùng với cha, mưu sinh bằng nhiều nghề làm mướn, lang thang rày đây mai đó, không có có nơi ở cố định.

Cha bị cáo có lúc cũng chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ. Đến năm bị cáo được khoảng 15 tuổi thì cha bị cáo tiếp tục sống chung với một người phụ nữ, mẹ kế quá khắt khe, thường xuyên đánh đập, hành hạ, không thể chung sống được nên bị cáo bỏ nhà đi sống lang thang tại khu vực huyện Trảng Bàng bằng nghề chăn vịt, chăn bò cho người khác để kiếm cơm hàng ngày không được đến trường như bao đứa trẻ khác. Đến tối ngủ trong chòi vịt, chuồng bò, nghe mà quá xót xa cho thân phận của một đứa trẻ ở tuổi ăn học, tổi mới lớn.

Bị cáo Nguyễn Văn Cường là người bị buộc tội từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên được Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh phân công Trợ giúp viên pháp lý để bào chữa trong phiên tòa xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

Dẫu biết rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên xét về nguyên nhân cũng như hoàn cảnh, điều kiện tác động đến hành vi phạm tội thì thấy rằng bị cáo đáng thương hơn đáng trách. Cũng vì sống lang thang, không có nơi ở cố định, thiếu thốn về vật chất, em Cường có mượn của anh Nguyễn Văn Hùng 200.000 đồng để mua thức ăn. Sau đó, em Cường mới nảy sinh ý định đi trộm cây bông trang để trả nợ 200.000 đồng cho anh Hùng. Nên sau đó, em đã đi đến nhà của anh Thắng trộm cắp cây bông trang rồi đem đến trả cho anh Hùng để trừ nợ, có 200.000 đồng nhưng đánh đổi lại một hình phạt tù thật sự không đáng.

Trong thời kỳ Nhà nước ta đang phổ cập giáo dục cho công dân thì với độ tuổi của bị cáo Cường tính đến ngày xét xử đã hơn 17 như thế tối thiểu cũng có thể đọc và viết được tên của mình nhưng bị cáo Cường không hề biết một mặt chữ nào, không biết đọc, không biết viết, đó là một sự thiệt thòi rất lớn đối với bị cáo, thể hiện sự thiếu quan tâm của cha mẹ, trách nhiệm của gia đình, của xã hội.

Trước khi mở phiên tòa, cha ruột của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, từ chối hẳn trách nhiệm của bậc làm cha đối với chính núm ruột của mình, từ chối hẳn đứa con mà mình phải có nghĩa vụ cưu mang. Những người trong phòng xử án đều có cái nhìn cảm thương cho số phận của em, không biết cuộc đời em sau này sẽ như thế nào. Nhìn sâu trong ánh mắt của em làm cho mỗi người đều cảm thấy nhói lòng, em trả lời sống những ngày trong Nhà Tạm giữ hình như có cái ăn, cái mặc hơn là bên ngoài, có người trò chuyện cùng, có cán bộ quản giáo chăm sóc mà từ trước giờ em chưa được hưởng cảm giác của tình yêu thương.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý đã trình bày trước Hội đồng xét xử, thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã áp dụng  nhưng cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh đáng thương của bị cáo như đã phân tích trên đây quyết định cho bị cáo một mức án phù hợp.

Hội đồng xét xử cân nhắc hành vi phạm tội, hoàn cảnh gia đình, nhân thân, cân nhắc lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý quyết định cho bị cáo Cường hưởng mức án tù bằng thời hạn tạm giam, tạm giữ là 04 tháng 09 ngày, tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. Tôi nhìn thấy ánh mắt của em sáng lên niềm vui tột cùng, hạnh phúc đong đầy nhưng ẩn chứa một nỗi lo sau này đối với cuộc sống mưu sinh.

Phiên tòa kết thúc với bản án sâu đậm tình người vừa có sức thuyết phục sâu sắc những người tham dự.

                                                              Ngọc Linh

5/21/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLTình người nơi pháp đình/HoatDongAnh/2020-05/21_Key_21052020082816.5_Key_21052020082816.2020_Key_21052020082816.png
5/21/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Những điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTPNhững điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTP

Ngày 03 tháng 02 năm 2021, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2021/TT-BTP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 26/3/2021 và thay thế Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng. Theo đó, Thông tư 01/2021/TT-BTP có một số điểm mới như sau:

* Về bổ nhiệm công chứng viên, đăng ký hành nghề công chứng:

          - Tại khoản 3 Điều 3, quy định cụ thể các loại giấy tờ chứng minh thời gian công tác pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Công chứng là một hoặc một số giấy tờ sau đây:

 

a)  Giấy tờ quy định tại điểm a, b và c khoản 2 Điều này;

b)  Quyết định tuyển dụng, quyết định luân chuyển, điều động, hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với vị trí công tác pháp luật được tuyển dụng hoặc ký hợp đồng;

c)  Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư, Chứng chỉ hành nghề đấu giá, Chứng chỉ hành nghề quản tài viên, quyết định bổ nhiệm Thừa phát lại kèm theo giấy tờ chứng minh thời gian đóng bảo hiểm xã hội phù hợp với các chức danh này;

d)  Các giấy tờ hợp pháp khác chứng minh thời gian công tác pháp luật.

          - Tại điểm e, khoản 1, Điều 4 quy định bổ sung các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký hành nghề, cụ thể: Quyết định thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, Chứng chỉ hành nghề đấu giá, quyết định miễn nhiệm Thừa phát lại, giấy tờ chứng minh đã chấm dứt công việc thường xuyên khác; giấy tờ chứng minh đã được Sở Tư pháp xóa đăng ký hành nghề ở tổ chức hành nghề công chứng trước đó hoặc văn bản cam kết chưa đăng ký hành nghề công chứng kể từ khi được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chứng viên.

* Về đào tạo nghề công chứng, khóa bồi dưỡng nghề công chứng, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm:

          - Theo Thông tư 01/2021/TT-BTP, thời gian tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ tối thiểu là 02 ngày làm việc/năm (16 giờ/năm), giảm 01 ngày so với quy định cũ.

          - Thông tư quy định những trường hợp được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ trong năm, gồm:

a) Công chứng viên nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi;

b) Công chứng viên phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh đối với những bệnh thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên, có giấy chứng nhận của cơ quan y tế cấp huyện hoặc tương đương trở lên.

- Quy định trách nhiệm của Hội công chứng viên Việt Nam trong thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng hàng năm:

a) Thực hiện nhiệm vụ của tổ chức thực hiện bồi dưỡng quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Hướng dẫn nội dung trọng tâm bồi dưỡng nghiệp vụ theo từng năm cho các Hội công chứng viên;

c) Hướng dẫn, tổng kết, đánh giá việc thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ của Hiệp hội và các Hội công chứng viên;

d) Hướng dẫn việc thu, quản lý, sử dụng chi phí thực hiện bồi dưỡng nghiệp vụ của các Hội công chứng viên theo quy định của pháp luật.

 

* Về tổ chức và hoạt động công chứng:

          Thông tư 01/2021/TT-BTP quy định bổ sung một số nội dung về kiểm tra tổ chức và hoạt động công chứng như: nội dung kiểm tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của đối tượng kiểm tra; trình tự, thủ tục kiểm tra.

          Ngoài ra, Thông tư còn quy định rút ngắn thời gian thực hiện việc đăng ký hành nghề và cấp Thẻ công chứng viên, xóa đăng ký hành nghề và thu hồi Thẻ công chứng viên; ban hành kèm theo 29 biểu mẫu trong hoạt động công chứng.

                                                                  

                                                             Phòng Công chứng số 3 Tây Ninh

3/23/2021 10:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngCC3Những điểm mới của Thông tư 01/2021/TT-BTP/HoatDongAnh/2021-03/cc3_Key_23032021090952.3_Key_23032021090952.2020_Key_23032021090952.1_Key_23032021090952.jpg
3/23/2021 10:00 AMNoĐã ban hành
Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020Bài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020

Vào ngày 22/10/2020, Hội đồng Phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý (TGPL) trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 29/6/2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định về phối hợp trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nhà tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành.

Tham dự Đoàn kiểm tra có Lãnh đạo Sở Tư pháp, TAND tỉnh, VKSND tỉnh; Sở Tài chính; Đại diện một số ngành thành viên: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Trung tâm TGPL nhà nước. Lãnh đạo Sở Tư pháp làm Trưởng đoàn.

Nội dung kiểm tra liên quan đến kết quả tổ chức triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10, chú trọng trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo quyền được TGPL cho người tham gia tố tụng.

Qua kết quả kiểm tra, Hội đồng nhận thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Hòa Thành và Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành có thực hiện việc giải thích, thông báo về TGPL; niêm yết Bảng thông tin về TGPL, đặt Hộp tin TGPL; phát miễn phí tờ gấp pháp luật, đơn yêu cầu TGPL; thực hiện việc đăng ký bào chữa; đăng ký bảo vệ; giao các văn bản tố tụng cho người thực hiện TGPL theo quy định của Thông tư liên tịch số 10. Bảo đảm cho người thực hiện TGPL khi tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL theo quy định của pháp luật về tố tụng và pháp luật về TGPL.

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tại hai đơn vị được kiểm tra có thực hiện việc giải thích về quyền TGPL cho các đối tượng theo quy định. Thông báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thông báo lịch xét xử cho người thực hiện TGPL; ghi rõ ràng và cụ thể trong bản án, các quyết định về thông tin của người thực hiện TGPL và ghi rõ ý kiến hoặc quan điểm bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thực hiện TGPL.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt làm được, Hội đồng đã chỉ ra những mặt còn hạn chế trong việc triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 10. Cụ thể là Nhà Tạm giữ - Công an thị xã Hòa Thành chưa thực hiện việc niêm yết Tờ thông tin về TGPL trong buồng tạm giữ, buồng tạm giam theo quy định tại Điểm c, Khoản 1, Điều 10, Thông tư liên tịch số 10. Có một số trường hợp chưa thực hiện việc giải thích, thông báo, thông tin TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Để tăng cường việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, Hội đồng cũng đã hướng dẫn cho các đơn vị được kiểm tra cũng như các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh thực hiện quy trình giải thích, thông báo, thông tin về TGPL theo quy định tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 10.

Ngoài ra, Hội đồng cũng đã đề nghị ngành thành viên của Hội đồng nghiêm túc thực hiện sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tại Công văn 849/UBND-NCPC ngày 27/4/2020. Đối với các ngành thành viên là các cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án: chỉ đạo triển khai và tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật TGPL năm 2017, Thông tư liên tịch số 10 và các luật, bộ luật tố tụng có liên quan trong hệ thống của ngành; phát huy và thực hiện tốt vai trò là thành viên Hội đồng.

Công tác TGPL là một chính sách nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đặc biệt là những người nghèo, người có công với cách mạng, người có hoàn cảnh đặc biệt đồng thời cũng là trách nhiệm chung của toàn xã hội đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, do đó thực hiện tốt công tác TGPL cũng như là thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước phân công./.

                                                          Ngọc Linh

11/5/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinTGPLBài tin Hội đồng Phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng tỉnh Tây Ninh tổ chức kiểm tra  việc phối hợp thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng năm 2020/HoatDongAnh/2020-11/tgpl_Key_05112020085254.5_Key_05112020085254.11_Key_05112020085254.2020_Key_05112020085254.png
11/5/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025

Ngày 27 tháng 01 năm 2021 Chính phủ ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025. Nghị định này quy định về các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình và trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn 2021 – 2025 và đối tượng áp dụng là hộ gia đình, các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân tham gia công tác giảm nghèo và an sinh xã hội. Theo đó:

- Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều năm 2021 theo Nghị định quy định như sau: Từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 tiếp tục thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ.

- Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022 – 2025 sẽ thực hiện theo các tiêu chí:

+ Tiêu chí thu nhập: Khu vực nông thôn: 1.500.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: 2.000.000 đồng/người/tháng.

+ Tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ), gồm: việc làm; y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số), gồm: việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình; dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; phương tiện phục vụ tiếp cận thông tin; dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản và ngưỡng thiếu hụt quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

+ Về chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Đối với khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

+ Về chuẩn hộ cận nghèo giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

+ Về chuẩn hộ có mức sống trung bình giai đoạn 2022 – 2025 đối với khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng; khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

 7.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Bên cạnh đó tại khoản 7 Điều 4 Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Chính phủ yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân về chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn; việc rà soát, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Thứ hai,  tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo đầu kỳ; rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 - 2025; phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hằng năm; xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình hằng năm.

Thứ ba, tổ chức thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên địa bàn.

Thứ tư, căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể nâng tiêu chí thu nhập cao hơn chuẩn nghèo đa chiều quốc gia với điều kiện tự cân đối ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật và bổ sung tiêu chí mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (dịch vụ, chỉ số thiếu hụt), điều chỉnh ngưỡng đo lường các chỉ số thiếu hụt để thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2021.

Chí Hiếu

3/23/2021 4:00 PMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngChuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021 – 2025/HoatDongAnh/2021-03/7_Key_23032021151655.hong_Key_23032021151655.22_Key_23032021151655.3_Key_23032021151655.2020_Key_23032021151655.jpg
3/23/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 4)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng đất ONT diện tích 291,3m2; thửa số 1460; tờ bản đồ 27; tọa lạc tại: ấp Trâm Vàng 3, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 5.172.614.000 đồng. Tiền đặt trước: 517.262.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 19/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 22/4/2021 (thứ năm), tại Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện Gò Dầu.

- Địa điểm đăng ký mua hồ sơ: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/1/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_01042021080041.jpg
4/1/2021 8:00 AMNoĐã ban hành
Quy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sưQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư

Ngày 15 tháng 3 năm 2019, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư (sau đây gọi tắt là Thông tư số 02/2019/TT-BTP). Thông tư số 02/2019/TT-BTP có hiểu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 và thay thế Thông tư số 10/2014/TT-BTP ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư.

Thông tư số 02/2019/TT-BTP có 5 chương, 21 điều, cụ thể: Chương I: quy định chung gồm 02 điều, từ Điều 1 đến Điều 2; Chương II: Thực hiện bồi dưỡng gồm 06 điều, từ Điều 3 đến Điều 8; Chương III: Quyền, trách nhiệm thực hiện bồi dưỡng và các mẫu giấy tờ kèm theo gồm 07 điều, từ Điều 9 đền Điều 15; Chương IV: Xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo gốm 04 điều, từ Điều 16 đến Điều 19; Chương V: Tổ chức thực hiện gồm 02 điều, từ Điều 20 đến Điều 21. Sau đây là một vài nội dung cơ bản của Thông tư số 02/2019/TT-BTP.

Theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP, tùy vào yêu cầu bồi dưỡng bắt buộc hàng năm, nội dung bồi dưỡng bao gồm một hoặc một số nội dung sau:

- Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư;

- Cập nhật, bổ sung kiến thức pháp luật;

- Kỹ năng hành nghề luật sư và kỹ năng hỗ trợ cho hoạt động hành nghề luật sư;

- Kỹ năng quản trị tổ chức hành nghề luật sư.

Việc bồi dưỡng được tổ chức dưới hình thức khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư.

Đồng thời, tại Điều 5 Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định thời gian tham gia bồi dưỡng tối thiểu là 8 giờ/năm. Ngoài ra, Luật sư được tính quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng trong năm đó khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Viết bài nghiên cứu pháp luật được đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật trong nước hoặc nước ngoài; viết sách, giáo trình được xuất bản về đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của luật sư hoặc kỹ năng hành nghề luật sư;

- Tham gia giảng dạy về pháp luật, kỹ năng hành nghề luật sư, đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư tại các cơ sở đào tạo cử nhân luật, cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia giảng dạy các khóa bồi dưỡng hoặc trao đổi kinh nghiệm hành nghề luật sư theo quy định của Thông tư này;

- Tham gia và hoàn thành chương trình đào tạo chức danh tư pháp;

- Tham gia và hoàn thành khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về luật sư và hành nghề luật sư ở nước ngoài;

- Tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo, tọa đàm từ 01 ngày trở lên về các nội dung theo quy định tại Điều 3 của Thông tư này do Sở Tư pháp, Cục Bổ trợ tư pháp tổ chức.

Luật sư tham gia bồi dưỡng được quy đổi trong các trường hợp nêu trên thì 01 lần tham gia và hoàn thành được tính bằng 08 giờ thực hiện nghĩa vụ bồi dưỡng.

Bên cạnh đó tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 02/2019/TT-BTP quy định rõ các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm cụ thể như sau:

- Luật sư đang làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Nữ luật sư có con dưới 12 tháng tuổi được miễn thực hiện nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng trong năm;

- Luật sư vì lý do bệnh tật có đơn đề nghị và được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư xác nhận;

- Luật sư từ đủ 70 tuổi trở lên và có trên 20 năm hành nghề luật sư;

- Luật sư phải điều trị dài ngày tại cơ sở khám chữa bệnh và thuộc danh mục bệnh chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế từ 03 tháng trở lên có Giấy chứng nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

Như vậy, Thông tư số 02/2019/TT-BTP đã quy định cụ thể, chi tiết nội dung, hình thức, thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc cũng như các trường hợp được quy đổi thời gian tham gia bồi dưỡng bắt buộc và các trường hợp được miễn nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng, . . . đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghĩa vụ của Luật sư theo quy định của pháp luật./.

 

Phòng Bổ trợ Tư pháp

7/30/2019 8:00 AMĐã ban hànhTin Luật sưTinBTTPQuy định mới về nghĩa vụ tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư/HoatDongAnh/2019-07/bttpngay30_Key_30072019073426.07_Key_30072019073426.2019_Key_30072019073426.png
7/30/2019 8:00 AMYesĐã ban hành
Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025

Thực hiện Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 14/8/2020, Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025 tại Quyết định số 1754/QĐ-UBND. 

Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (viết tắt DNNVV) được phê duyệt nhằm triển khai đồng bộ các hoạt động hỗ trợ pháp lý, tạo chuyển biến căn bản về ý thức pháp luật và thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV; tạo lập các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thực thi pháp luật để giúp doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; phòng chống rủi ro pháp lý và tăng cường năng lực cạnh tranh góp phần nâng cao công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với DNNVV và hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV trên địa bàn tỉnh được tiếp cận, sử dụng thông tin đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, được giải đáp pháp luật, cung cấp văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý của Nhà nước. Xác định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV đồng thời nâng cao năng lực của các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Chương trình được thực hiện đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh có nhu cầu cần được hỗ trợ thông tin pháp lý; Người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV; Các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Chương trình được thực hiện với các nội dung chính sau:

- Hoạt động cung cấp thông tin:

Xây dựng, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu pháp luật phục vụ hoạt động của doanh nghiệp. Xây dựng chuyên mục hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh. Cập nhật và đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh các bản án, quyết định của tòa án; phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; quyết định xử lý vi phạm hành chính liên quan đến doanh nghiệp được phép công khai, có hiệu lực thi hành mà Ủy ban nhân dân tỉnh là một bên có liên quan (nếu có); các văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân tỉnh đối với các vướng mắc pháp lý cho doanh nghiệp trong quá trình áp dụng chung về pháp luật.

Cập nhật và đăng tải lên Cổng thông tin điện tử của tỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn do trung ương, địa phương ban hành liên quan đến doanh nghiệp. Cập nhật và đăng tải lên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành liên quan đến doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Công bố, thông tin về kế hoạch, chương trình, dự án và các hoạt động khác có liên quan đến Chương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cung cấp các thông tin pháp luật trong nước, pháp luật nước ngoài, cảnh báo rủi ro pháp lý và các chính sách của ngành, lĩnh vực liên quan đến doanh nghiệp (nếu có).

- Hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật:

Sở Tư pháp chủ trì phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Hội doanh nghiệp tỉnh, Ban Quản lý khu kinh tế và các cơ quan đơn vị liên quan thực hiện hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật như: Xây dựng kế hoạch và tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho doanh nghiệp, người làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giới thiệu các nội dung cơ bản về các chính sách mới của Trung ương có liên quan đến hoạt động kinh doanh của DNNVV. Giới thiệu văn bản pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để tuyên truyền, phổ biến cho DNNVV các chủ trương, chính sách đặc thù của tỉnh. Biên soạn nội dung tài liệu hỗ trợ pháp luật kinh doanh cho doanh nghiệp theo chuyên đề hoặc các chính sách pháp luật có liên quan đến kinh doanh mà các doanh nghiệp thường gặp trong quá trình kinh doanh.

Doanh nghiệp chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật; các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành có liên quan tổ chức thực hiện phổ biến pháp luật trong doanh nghiệp về những quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động, người sử dụng lao động, các hoạt động kinh doanh của DNNVV.

- Hoạt động tư vấn pháp luật:

Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại với DNNVV để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Các cơ quan quản lý chuyên ngành có trách nhiệm trả lời kiến nghị khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, gửi kết quả về Sở Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh tại buổi đối thoại gần nhất.

Giải quyết các vướng mắc pháp lý và hoạt động tư vấn pháp luật khác cho DNNVV: Doanh nghiệp có thể đến trực tiếp hoặc gửi văn bản qua mạng điện tử hoặc gọi điện thoại đến Hội Doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, Ủy ban nhân dân cấp huyện để được giải quyết các vướng mắc pháp lý và các hoạt động tư vấn pháp luật khác. Các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc giải quyết các vướng mắc pháp lý và các hoạt động tư vấn pháp luật khác phải phù hợp với quy định pháp luật trên cơ sở nhu cầu của DNNVV trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình.

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp:

Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp và các văn bản có liên quan không còn phù hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới các văn bản thuộc chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cơ quan mình.

Trên cơ sở các nội dung của Chương trình, Chủ tịch UBND tỉnh giao: Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai các hoạt động theo Chương trình đã được phê duyệt; Chịu trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chương trình này và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao triển khai thực hiện có hiệu quả nội dung Chương trình này./.

                                                                                     Kim Ngọc


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLChương trình hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa  trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2020-2025/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103144.8_Key_25082020103144.2020_Key_25082020103144.1_Key_25082020103144.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệpSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp

Được sự hỗ trợ kinh phí của Chương trình Hỗ trợ pháp lý liên ngành dành cho doanh nghiệp giai đoạn 2015-2020 - Bộ Tư pháp, ngày 20 tháng 10 năm 2020, tại hội trường Thành ủy thành phố Tây Ninh, Sở Tư pháp tổ chức Hội nghị tập huấn "Bồi dưỡng tăng cường năng lực cho các cơ quan, tổ chức và người thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh trong doanh nhiệp".

Tại Hội nghị đại diện lãnh đạo các Sở, ban, ngành tỉnh; chuyên viên Văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND và UBND tỉnh phụ trách công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Cán bộ pháp chế của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và các doanh nghiệp các đơn vị có liên quan được giao làm công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Đoàn Luật sư, Hội Luật gia, Hội Công chứng, Hội doanh nghiệp tỉnh được nghe Tiến sĩ Nguyễn Thanh Bình – Cục trưởng Cục công tác phía Nam trình bày các nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh năm 2018; Nghị định số 35/2020/NĐ-CP ngày 24/4/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Cạnh tranh; 

xlvpphc.ngoc1.jpg

Nghị định số 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh; Chính sách của nhà nước về cạnh tranh và trách nhiệm phối hợp thực hiện biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh.

Qua Hội nghị giúp cho các đồng chí tham dự nắm bắt được những nội dung cơ bản về pháp luật cạnh tranh trong doanh nghiệp; trang bị một cách có hệ thống kiến thức pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm và được giải đáp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc pháp lý trong thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp.

xlvpphc.ngoc2.jpg

Tóm lại, hoạt động này nhằm cung cấp đầy đủ, có hệ thống và cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng, nghiệp vụ hỗ trợ pháp lý cho các cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng và người thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định 55/2019/NĐ-CP. Đồng thời, thúc đẩy công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, đáp ứng mục tiêu của Chương trình 585; triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh./.

                                                                                      KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLSở Tư pháp tỉnh Tây Ninh tổ chức Hội nghị bồi dưỡng tăng cường năng lực cho cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp/HoatDongAnh/2020-11/xlvpphc_Key_03112020144029.ngoc1_Key_03112020144029.jpg
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO 

Về việc đấu giá tài sản (lần 2)

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất thị xã Hòa Thành, như sau:

1) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 286,9m2, thửa số 280, tờ bản đồ số 15, tại Khu phố Long Chí, Phường Long Thành Trung, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 4.039.583.653 đồng. 

- Tiền đặt trước: 403.959.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

2) Quyền sử dụng đất ở đô thị để giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 322,4m2, thửa số 01, tờ bản đồ số 25, tại Khu phố Hiệp An, Phường Hiệp Tân, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Giá khởi điểm: 11.202.263.008 đồng. 

- Tiền đặt trước: 1.120.227.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 500.000 đồng.

* Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

* Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: mẫu Đơn đăng ký đấu giá, mẫu giấy xem tài sản (theo mẫu Trung tâm ban hành), bản sao giấy CMND, bản sao sổ hộ khẩu.

* Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 12/4/2021 (thứ hai). 

* Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 15/4/2021 (thứ năm).

* Liên hệ Người có tài sản để xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

* Địa điểm đăng ký mua, nộp hồ sơ và tổ chức đấu giá tại: Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.


3/19/2021 11:00 AMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-03/hinh dau gia 3_Key_19032021104328.jpg
3/19/2021 11:00 AMNoĐã ban hành
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020

Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh được thành lập từ tháng 4/1998 theo Quyết định số 23/1998/QĐ-CT ngày 17/4/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định và TGPL cho nhiều đối tượng. Để phù hợp với các văn bản pháp luật cũng như tình hình thực tiễn của địa phương, Trung tâm TGPL đã qua hai lần kiện toàn (Quyết định số 2960/QĐ-UBND ngày 20/12/2007 và Quyết định số 338/QĐ-UBND ngày 16/02/2011).

Trung tâm hiện tại có 02 Phòng gồm Phòng Hành chính - Tổng hợp và Phòng Nghiệp vụ. Trung tâm có chức năng thực hiện TGPL miễn phí cho người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo, người có khó khăn về tài chính: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Trong 5 năm qua, Trung tâm TGPL nhà nước tỉnh Tây Ninh đã tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do Sở Tư pháp phát động, công tác TGPL trên toàn quốc nói chung và tại tỉnh Tây Ninh nói riêng đã gặt hái được nhiều thành công trên con đường triển khai thực hiện chương trình xóa nghèo về pháp luật của Đảng và Nhà nước ta dành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội. TGPL đã thật sự mang một màu sắc mới và đang từng ngày thay da đổi thịt, đã góp phần thiết thực trong việc bảo đám quyền công dân, quyền con người trong tiếp cận công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hàng triệu người có vướng mắc pháp luật.

Từ năm 2015 – 2020, trên cơ sở kế hoạch công tác TGPL được được Sở Tư pháp phê duyệt, Trung tâm TGPL nhà nước bám sát vào kế hoạch để triển khai thực hiện, trong giai đoạn 2015-2020, tổng số vụ việc tiếp nhận thực hiện TGPL là 2.734 vụ việc (trong đó tham gia tố tụng hàng năm từ 200 – 250 vụ, việc), tư vấn pháp luật những vụ việc đơn giản và giải đáp những thắc mắc cho hơn 1.000 lượt người tại trụ sở và thông qua các đợt truyền thông về công tác TGPL; tổ chức 03 đợt tập huấn nghiệp vụ TGPL và triển khai văn bản pháp luật, có 377 người; tổ chức 265 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở.

Ngoài ra, hàng năm Trung tâm còn phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh tổ chức từ 05 đợt truyền thông về công tác TGPL kết hợp tư vấn pháp luật tại cơ sở, tổ chức đánh giá chất lượng vụ việc theo quy định. Xây dựng quy trình lựa chọn luật sư ký hợp đồng thực hiện TGPL với 10 luật sư trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. Tổ chức biên soạn và in ấn nhiều loại tài liệu pháp luật, bảng thông tin TGPL để cấp phát cho Nhân dân trong các đợt truyền thông và các cơ quan liên quan như: Trường học, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh, Trung tâm Bảo trợ xã hội.

Những năm gần đây, tỷ lệ vụ án có Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng để đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL ngày càng tăng, chiếm số lượng từ 70 - 80%  số vụ việc TGPL mà Trung tâm thụ lý. Tất cả các Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm tham gia tố tụng đều đạt chỉ tiêu khá trở lên theo quy định của Bộ Tư pháp.

Đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý luôn thực hiện nhiệm vụ với tinh thần nhiệt huyết, quyết tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL một cách tốt nhất, đã và đang đóng vai trò chủ chốt trong việc thực hiện các vụ việc tham gia tố tụng trong những vụ việc bắt buộc phải có sự tham gia của người bào chữa theo quy định, từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình, tạo được niềm tin của Nhân dân đối với chính sách TGPL.

Để ghi nhận thành tích đã đạt được, liên tục trong nhiều năm liền, Trung tâm đều được Chủ tịch UBND tỉnh công nhận là tập thể lao động xuất sắc, từ năm 2015 đến nay Trung tâm 02 lần được Chủ tịch UBND tỉnh tặng cờ là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua, được tặng 04 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh.

Từ những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua, vào ngày 18/8/2020 tại Đại hội Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ 5 được tổ chức tại Hội trường Tỉnh ủy, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng. Cũng tại Đại hội này, đồng chí Lê Minh Hiền, Giám đốc Trung tâmTrợ giúp pháp lý nhà nước được vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng ba của Chủ tịch nước tặng thưởng.

Hy vọng Trung tâm ngày càng phát triển để trở thành cầu nối giữa Nhà nước với Nhân dân, củng cố niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước./.

                                                        Ngọc Linh – Trung tâm TGPL nhà nước

8/24/2020 3:00 PMĐã ban hànhTin Trợ giúp pháp lýTinThông báoTrung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tây Ninh đón nhận Huân chương lao động hạng ba của Chủ Tịch nước tại Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Tây Ninh lần thứ v giai đoạn 2015 - 2020/HoatDongAnh/2020-08/huanchuongtgpl_Key_25082020083730.jpg
8/24/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tếHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế

Trong thời gian gần đây, Chính phủ đã nỗ lực thực hiện những giải pháp để thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp hướng tới đạt mục tiêu năm 2020 có 1 triệu doanh nghiệp, năm 2025 có 1,5 triệu doanh nghiệp và năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Theo Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 của Hội nghị TW 5 Khóa XII, Chính phủ đã ban hành các Nghị quyết số 35, Nghị quyết số 19 năm 2016 - 2017 - 2018, Nghị quyết số 02 năm 2019 về cải thiện môi trường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, trong đó đưa ra các giải pháp đột phá để hỗ trợ doanh nghiệp, nhiều địa phương đã duy trì và nâng cao chất lượng cơ chế đối thoại chính sách để tháo gỡ khó khăn về chính sách liên quan đến lao động, đất đai, vốn, thuế, hải quan...

Tuy nhiên, năng lực nội tại của các DNNVV vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: đa số các DNNVV có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, hoạt động sản xuất còn nhỏ lẻ manh mún; thiếu vắng sự liên kết, đặc biệt liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp vừa và lớn; năng xuất trong khu vực DNNVV thấp, năng lực cạnh tranh, thích nghi với thị trường còn yếu; máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu...

Từ góc nhìn của tổ chức đại diện doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy, mặc dù cơ chế chính sách đã được ban hành nhiều, tương đối đầy đủ, nhưng chậm được triển khai đã làm mất đi tính cơ hội, lạc hậu so với tình hình thực tiễn, nên phải điều chỉnh bổ sung nhiều đã làm ảnh hưởng đến khu vực doanh nghiệp dân doanh. Bên cạnh đó, một số các cấp chính quyền địa phương vẫn còn lúng túng trong việc đưa ra chính sách, nguồn lực cụ thể để triển khai, mặc dù cơ chế đã có.

Để các quy định của Nghị định số 55/2019/NĐ-CP về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thực sự được triển khai trên thực tế, đi vào cuộc sống, trong phạm vi bài viết, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Phải xác định hỗ trợ pháp lý cho DNNVV là một hoạt động cơ bản, thường xuyên, liên tục, là trách nhiệm của các cấp, các ngành. Hoạt động này xuất phát từ bối cảnh thực tế hiện nay, khi nhận thức pháp luật của khu vực kinh tế dân doanh còn nhiều hạn chế, chủ sở hữu, người quản lý trong doanh nghiệp chưa hình thành thói quen tuân thủ pháp luật, chế tài xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm minh, chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch, thực thi pháp luật chưa đạt hiệu quả.

Thứ hai: Nhu cầu hỗ trợ pháp lý và tư vấn pháp luật của khu vực DNNVV rất nhiều, phong phú và đa dạng, điều này, xuất phát từ quyền tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp. Trong khi đó, nguồn lực Nhà nước lại có hạn, hỗ trợ pháp lý chỉ là một hoạt động trong tổng thể các hoạt động hỗ trợ DNNVV. Để tránh lãnh phí, tràn lan, nhưng không đem lại hiệu quả thiết thực, Nhà nước cần xác định rõ các nội dung, hoạt động nào Nhà nước hỗ trợ, nội dung, hoạt động nào doanh nghiệp phải thực hiện thuê dịch vụ pháp lý để phòng ngừa rủi ro theo quy luật của thị trường.

Thứ ba: Trong khi cơ cấu, tổ chức, cán bộ làm công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV trong các cơ quan Nhà nước hiện nay chưa ổn định, sự quan tâm của các cấp chính quyền chưa đồng đều, Nghị định 55/2019/NĐ-CP, Nghị định 39/2018/NĐ-CP đã quy định về cơ chế thiết lập mạng lưới tư vấn viên hỗ trợ cho DNNVV. Vì vậy, các bộ ngành, địa phương cần sớm triển khai cơ chế này, đây có thể được coi là một cơ chế hữu hiệu để triển khai các hoạt động hỗ trợ cho DNNVV một cách hiệu quả. Tuy nhiên, để cơ chế này thực sự phát huy, Nhà nước cần chủ động hướng dẫn, xây dựng tiêu chí, công nhận tư cách của mạng lưới, bố trí kinh phí để duy trì, khuyến khích bồi dưỡng, giám sát, kiểm tra mạng lưới tư vấn viên. Đây cũng được coi là cơ chế để đội ngũ luật sư, luật gia tham gia sâu rộng vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DNNVV.

Thứ tư: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, những thành quả của kỹ thuật số vào trong công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV. Thực tế, những người quản lý, chủ sở hữu doanh nghiệp rất bận. Vì vậy, những cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật theo phương thức truyền thống cần có sự thay đổi mạnh mẽ, nắm sát đặc điểm tâm lý, đặc thù của doanh nghiệp, chủ động ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.

Thứ năm: Cần có phân loại, phân nhóm các loại hình DNNVV để có các chuyên đề, chương trình hỗ trợ cho phù hợp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất, chế biến, chế tạo có nhu cầu hỗ trợ khác với doanh nghiệp thuộc nhóm ngành thương mại dịch vụ.

Thứ sáu: Cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác hỗ trợ cho doanh nghiệp nói chung, công tác hỗ trợ pháp lý cho DNNVV nói riêng. Thực tế cho thấy, để thay đổi thói quen tuân thủ pháp luật của DNNVV, chúng ta phải nhìn tổng thể để có các giải pháp thay đổi trên các bình diện về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch, ý thức phục vụ của tổ chức, cá nhân thừa hành công vụ, tính nghiêm minh bình đẳng của thi hành pháp luật./.

                                                                     Nguồn: Tạp chí Luật sư Việt Nam 


8/25/2020 11:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLHỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa từ pháp luật đến nhu cầu thực tế/HoatDongAnh/2020-08/ngoc25_Key_25082020103622.8_Key_25082020103622.2020_Key_25082020103622.2_Key_25082020103622.jpg
8/25/2020 11:00 AMYesĐã ban hành
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ

THÔNG BÁO

Về việc đấu giá tài sản

 

Tài sản của Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh Tây Ninh, như sau:

- Đấu giá quyền sử dụng 4.053,8m2 đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu phố Thương mại Tân Biên tại Khu phố 2, thị trấn Tân Biên, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

+ Mục đích sử dụng đất: Xây dựng Khu phố thương mại, nhà ở thương mại.

+ Hình thức sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc Quyết định giao đất.

+ Thời sử dụng đất đối với Nhà đầu tư: 50 năm. (Người mua nhà ở gắn liền với quyền sử đất của dự án được giao đất ổn định lâu dài).

- Giá khởi điểm: 67.108.891.543 đồng. Tiền đặt trước: 6.710.000.000 đồng. Tiền bán hồ sơ tham gia đấu giá: 1.000.000 đồng.

- Đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá theo phương thức trả giá lên.

- Điều kiện, cách thức đăng ký gồm: Bản sao Giấy phép kinh doanh và giấy CMND, mẫu Phiếu đăng ký tham gia đấu giá, mẫu giấy xem tài sản và hồ sơ năng lực theo tiêu chí (theo mẫu Trung tâm ban hành).

- Thời gian đăng ký, tham khảo mua và nộp hồ sơ trong giờ hành chính từ ngày ra thông báo đến hết 15 giờ, ngày 26/4/2021 (thứ hai). Xem tài sản trực tiếp từ ngày ra thông báo đến ngày hết hạn đăng ký tham gia đấu giá, tại nơi có bất động sản.

- Tổ chức đấu giá: 09 giờ, ngày 29/4/2021 (thứ năm).

Địa điểm đăng ký mua hồ sơ và tổ chức đấu giá: tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh.

Mọi chi tiết xin liên hệ tại Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh; số 082 Trần Hưng Đạo, Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại: 02763.813 218.

4/6/2021 3:00 PMĐã ban hànhTin Đấu giáTinThông báoTrung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tây Ninh - THÔNG BÁO ĐẤU GIÁ /HoatDongAnh/2021-04/hinh dau gia 3_Key_06042021145315.jpg
4/6/2021 3:00 PMNoĐã ban hành
Quy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triểnQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển

Ngày 30/12/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển (viết tắt là Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg).

Theo đó, các Phụ lục kèm theo Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg quy định có 99 công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và 107 sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Trong trường hợp công nghệ cao, sản phẩm công nghệ cao không thuộc các Danh mục như đã nêu tại Quyết định số 38/2020/QĐ-TTg, nhưng đáp ứng các quy định khác tại Luật Công nghệ cao, có tính cấp thiết, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thì Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2021 và thay thế Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, Quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, khoản 2 Điều 1 và Điều 4 Quyết định số 34/2019/QĐ-TTg ngày 18/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định tiêu chí xác định dự án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp và bổ sung Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ./.

                                                                   Phòng XDKT&QLTTPL

 

QĐ số 38_2020_QD-TTg.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinKim NgọcQuy định mới về danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021142907.1_Key_03022021142907.2021_Key_03022021142907.13_Key_03022021142907.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệpQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 17/QĐ-TTg quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Theo đó,  người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp được hỗ trợ với mức học nghề như sau:

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề đến 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo mức thu học phí của cơ sở đào tạo nghề nghiệp và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 4.500.000 đồng/người/khóa đào tạo.

- Đối với người tham gia khóa đào tạo nghề trên 03 tháng: Mức hỗ trợ tính theo tháng, mức thu học phí và thời gian học nghề thực tế nhưng tối đa không quá 1.500.000 đồng/người/tháng.

Trường hợp người lao động tham gia khóa đào tạo nghề có những ngày lẻ không đủ tháng theo quy định của cơ sở đào tạo nghề nghiệp thì số ngày lẻ được tính theo nguyên tắc: Từ 14 ngày trở xuống tính là ½ tháng và từ 15 ngày trở lên được tính là 01 tháng.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021. Đối với người lao động đã nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa có quyết định hỗ trợ học nghề thì được áp dụng mức hỗ trợ học nghề theo các quy định tại Quyết định này./.

                                                                             Phòng XDKT&QLTTPL

QD17TTghotrodaotaonghecothamgiaBHTN (1).pdf
4/5/2021 9:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinKim NgọcQuy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp/HoatDongAnh/2021-04/ngoc11_Key_05042021084747.1_Key_05042021084747.2021_Key_05042021084747.17_Key_05042021084747.jpg
4/5/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kếtQuy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết

Ngày 05 tháng 11 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2020/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 12 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.

Nghị định này quy định nguyên tắc, phương pháp, trình tự xác định yếu tố hình thành giá giao dịch liên kết; quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong xác định giá giao dịch liên kết, thủ tục kê khai; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong quản lý thuế đối với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết.

Các giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.

Về nguyên tắc áp dụng, người nộp thuế có giao dịch liên kết phải loại trừ các yếu tố làm giảm nghĩa vụ thuế do quan hệ liên kết chi phối, tác động để kê khai, xác định nghĩa vụ thuế đối với các giao dịch liên kết tương đương với các giao dịch độc lập có cùng điều kiện.

Cơ quan thuế quản lý, kiểm tra, thanh tra đối với giá giao dịch liên kết của người nộp thuế theo nguyên tắc giao dịch độc lập và bản chất hoạt động, giao dịch quyết định nghĩa vụ thuế tương ứng với giá trị tạo ra từ bản chất giao dịch, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, không công nhận các giao dịch liên kết không theo nguyên tắc giao dịch độc lập làm giảm nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước và thực hiện điều chỉnh giá giao dịch liên kết đó để xác định đúng nghĩa vụ thuế quy định của Nghị định này.

Tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

Nghị định quy định cụ thể về xác định chi phí để tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Trong đó nêu rõ tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết:

a) Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế;

b) Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ;

c) Quy định tại điểm a không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng; tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm; các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác);

d) Người nộp thuế kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay trong kỳ tính thuế theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định 132/2020/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20 tháng 12 năm 2020 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020. Nghị định số 20/2017/NĐ-CP ngày 24 tháng 2 năm 2017 và Nghị định số 68/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Chính phủ quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết hết hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 12 năm 2020./.

11/26/2020 10:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết/HoatDongAnh/2020-12/thanhtra_Key_01122020092948.29_Key_01122020092948.10_Key_01122020092948.2020_Key_01122020092948.2_Key_01122020092948.png
11/26/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Quy định mới về kinh doanh hàng miễn thuếQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế

Ngày 28 tháng 8 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 100/2020/NĐ-CP về kinh doanh hàng miễn thuế (viết tắt là Nghị định số 100/2020/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2020. Theo đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP bãi bỏ Nghị định số 67/2016/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2016 của Chính phủ về kinh doanh hàng miễn thuế.

Về đối tượng và điều kiện mua hàng miễn thuế được quy định tại Điều 3 Nghị định số 100/2020/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Người xuất cảnh, quá cảnh sau khi hoàn thành thủ tục xuất cảnh, quá cảnh, hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam hoặc người chờ xuất cảnh được mua hàng miễn thuế.

- Hành khách trên các chuyến bay quốc tế xuất cảnh từ Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay xuất cảnh. Hành khách trên các chuyến bay quốc tế đến Việt Nam được mua hàng miễn thuế trên tàu bay đang thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam.

- Người nhập cảnh được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế đặt tại khu vực hạn chế của cảng hàng không dân dụng quốc tế ngay sau khi hoàn thành thủ tục nhập cảnh, không được mua hàng miễn thuế sau khi đã ra khỏi khu vực hạn chế tại cảng hàng không dân dụng quốc tế.

- Đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ tại Việt Nam được mua hàng miễn thuế tại cửa hàng miễn thuế trong nội địa; khi mua hàng miễn thuế cho tổ chức phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế; khi mua hàng miễn thuế cho cá nhân phải xuất trình sổ định mức hàng miễn thuế kèm chứng minh thư do Bộ Ngoại giao cấp hoặc hộ chiếu.

- Đối tượng mua hàng là thuyền viên làm việc trên tàu biển chạy tuyến quốc tế (bao gồm tàu biển có quốc tịch nước ngoài và tàu biển có quốc tịch Việt Nam chạy tuyến quốc tế) được mua hàng miễn thuế tại cảng biển loại 1, cửa hàng miễn thuế trong nội địa phục vụ cho nhu cầu cá nhân, nhu cầu sinh hoạt chung của thuyền viên để sử dụng trên tàu trong thời gian tàu neo đậu tại cảng biển Việt Nam và để sử dụng trên tàu ngoài lãnh hải Việt Nam sau khi tàu xuất cảnh.

Bên cạnh đó, Nghị định số 100/2020/NĐ-CP cũng quy định rõ chính sách đối với hàng hóa đưa vào bán tại cửa hàng miễn thuế, kho chứa hàng miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế, quản lý thuế có liên quan.

Đồng tiền dùng trong giao dịch bán hàng miễn thuế gồm: đồng Việt Nam; đồng USD, euro; đồng tiền của nước có chung biên giới đất liền với địa điểm đặt cửa hàng miễn thuế tại khu vực biên giới; đồng tiền của quốc gia nơi các chuyến bay quốc tế của các hãng hàng không được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam thực hiện nhập cảnh, quá cảnh tại quốc gia đó.

                                                                                                    KN

11/3/2020 3:00 PMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng XD&KTVBQPPLQuy định mới về kinh doanh hàng miễn thuế/HoatDongAnh/2020-11/xlvphc03_Key_03112020143313.11_Key_03112020143313.2020_Key_03112020143313.1_Key_03112020143313.png
11/3/2020 3:00 PMYesĐã ban hành
Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202

Xử lý vi phạm hành chính là công cụ quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương hành chính trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây cũng là vấn đề trực tiếp liên quan đến cuộc sống hằng ngày của nhân dân, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, được Ðảng, Nhà nước và toàn xã hội hết sức quan tâm.

 Nhằm xem xét, đánh giá tình hình thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phòng, chống, ngăn chặn các vi phạm trong thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; phát hiện các quy định chưa thống nhất, đồng bộ hoặc chưa phù hợp với thực tiễn để kịp thời sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ. Ngày 10/3/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã ký ban hành Kế hạch kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 2021 (Kế hoạch số 712/KH-UBND).

Theo đó, dự kiến trong quý III năm 2021, Đoàn kiểm tra sẽ tiến hành kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; kiểm tra việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực đất đai, về giao rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng, lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy tại các đơn vị: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh, Ban Quản lý vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, UBND các huyện Tân Châu, Tân Biên, Dương Minh Châu.

Các cơ quan, đơn vị được kiểm tra có trách nhiệm xây dụng báo cáo thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính của đơn vị mình; cung cấp thông tin, hồ sơ tài liệu và giải trình các vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra; bố trí Lãnh đạo đơn vị làm việc với Đoàn Kiểm tra và chấp hành kết luận kiểm tra, xử lý kết quả kiểm tra trên cơ sở kiến nghị của Đoàn Kiểm tra trong kết luận kiểm tra./.

                                                                                                           Huy Bảo

                                                                                                          Phòng XDKT&QLTTPL – Sở Tư pháp

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinHuy BảoỦy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh ban hành Kế hoạch Kiểm tra thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính năm 202/HoatDongAnh/2021-04/1_Key_02042021075747.bao_02_Key_02042021075747.4_Key_02042021075747.2021_Key_02042021075747.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Kết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019Kết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019

Thực hiện Luật Thanh tra năm 2010, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra, Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành, Nghị định 54/2014/NĐ-CP ngày 29/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thanh tra ngành Tư pháp và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; kế hoạch thanh tra năm 2019 đã được phê duyệt.

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tư pháp nói chung, quản lý về luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư nói riêng; qua thanh tra nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm pháp luật (nếu có); phát hiện các sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp khắc phục, điều chỉnh, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội.

 Thực hiện theo Quyết định số 377/QĐ-STP ngày 25/02/2019 của Giám đốc Sở Tư pháp về việc thanh tra chuyên ngành về tổ chức, hoạt động luật sư của tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019 của Sở Tư pháp. Đoàn Thanh tra đã tiến hành thanh tra theo Kế hoạch số 07/KH-ĐTTr ngày 25/02/2019 tại Công ty luật TNHH MTV Bảo Pháp vào ngày 14/3/2018, Văn phòng Luật sư Trần Minh Tuấn vào ngày 15/3/2019, Chi nhánh văn phòng luật sư Hằng Nguyễn vào ngày 19/3/2019, Công ty luật TNHH MTV Bảo Minh Lý vào ngày 20/3/2019 và Văn phòng Luật sư Nguyễn Thanh Hùng vào ngày 21/3/2019.

Tại Kết luận thanh tra số 817/KL-STP ngày 17/4/2019, Giám đốc Sở ghi nhận kết quả những mặt làm được của các đơn vị được thanh tra như sau:

- Đa số các đơn vị có trụ sở làm việc, trang thiết bị được đầu tư tốt, hoạt động đúng địa chỉ đăng ký; biển hiệu ghi đúng theo Giấy đăng ký hoạt động.

- Thực hiện việc trợ giúp pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của  người dân đúng theo quy định.

- Chấp hành tốt các quy định của Luật Luật sư và các văn bản pháp luật liên quan trong quá trình thành lập và hoạt động, chấp hành đầy đủ sự phân công của Đoàn luật sư đối với các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng mời.

- Có tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ và mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư.

- Thực hiện nghĩa vụ thuế, tài chính đúng theo quy định.

Tuy nhiên, bên cạnh đó các tổ chức hành nghề luật sư được thanh tra có một hoặc một vài hạn chế, sai sót như sau:

 - Không có lập phiếu thu và không lập phiếu thỏa thuận thực hiện dịch vụ pháp lý với khách hàng theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp, thực hiện xong dịch vụ pháp lý với khách hàng nhưng chưa tiến hành thanh lý hợp đồng.

- Đã thay đổi địa chỉ trụ sở nhưng đến thời điểm thanh tra chưa thông báo cho Sở Tư pháp theo quy định tại Khoản 2, Điều 41 Luật Luật sư năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2012.

- Chưa thực hiện việc báo cáo tài chính năm 2018.

- Chưa thực hiện việc báo cáo về tổ chức và hoạt động định kỳ 06 tháng theo Thông tư 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp.

- Chưa lập sổ theo dõi quá trình tập sự của người tập sự theo Thông tư 19/2013/TT-BTP ngày 28/11/2013 của Bộ Tư pháp.

Qua kết quả thanh tra, Giám đốc Sở Tư pháp yêu cầu các tổ chức hành nghề  luật sư được thanh tra cần rút kinh nghiệm, tiến hành các biện pháp để khắc phục ngay các hạn chế, sai sót đảm bảo chấp hành đúng các quy định của pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức.

Thanh tra Sở

6/13/2019 4:00 PMĐã ban hànhTin Luật sưTinThanh TraKết luận thanh tra chuyên ngành về tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư theo Kế hoạch thanh tra năm 2019/HoatDongAnh/2019-06/thanhtraso1362019_Key_13062019154930.jpg
6/13/2019 4:00 PMYesĐã ban hành
Công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020Công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020

Thực hiện Kế hoạch số 2843/KH-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định công bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020 (Quyết định số 143/QĐ-UBND). Theo đó, số văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ là 45 văn bản (07 Nghị quyết và 38 Quyết định) và hết hiệu lực một phần là 15 văn bản (15 Quyết định).

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký./.

                                                                              Phòng XDKT&QLTTPL

 

KH 238 ub.signed.rar


2/3/2021 3:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinKim NgọcCông bố Danh mục văn bản quy phạm pháp luật của  Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh hết hiệu lực  toàn bộ và hết hiệu lực một phần trong năm 2020/HoatDongAnh/2021-02/ngoc11_Key_03022021142544.1_Key_03022021142544.2021_Key_03022021142544.12_Key_03022021142544.jpg
2/3/2021 3:00 PMYesĐã ban hành
Một số nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hànhMột số nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành

Ngày 20/11/2019, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa 14 đã thông qua Bộ luật Lao động năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Với nhiều nội dung được sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2019 được đánh giá là sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến người sử dụng lao động. Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần lưu ý một số nội dung sau:

1. Về các dấu hiệu được coi là hợp đồng lao động

Điều 13 Bộ Luật Lao động năm 2019 quy định "trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động". Để đảm bảo quyền lợi của người lao động Điều 13 Bộ Luật Lao động năm 2019 đã bổ sung thêm các dấu hiệu được coi là hợp đồng lao động không phụ thuộc vào tên gọi như: có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên.

Quy định này sẽ giải quyết tình trạng lách các quy định của pháp luật, dùng tên gọi khác để né tránh trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của người sử dụng lao động về tiền lương, trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động.

ngoc07.09.2020.2.jpg

Với quy định này, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra bất cứ một thỏa thuận nào với người lao động để đạt được mục đích trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như phù hợp với quy định pháp luật.

2. Về hình thức hợp đồng lao động.

Ngoài hình thức hợp đồng lao động được ký kết bằng văn bản, Bộ Luật Lao động năm 2019 còn bổ sung hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

Hình thức này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc đơn giản hóa giấy tờ, dễ dàng trong việc tiếp cận nguồn nhân lực thời đại công nghệ số.

3. Về loại hợp đồng lao động

Kể từ ngày 01/01/2021, hợp đồng lao động sẽ được giao kết theo một trong 02 loại sau đây:

- Hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn, trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chất dứt của hợp đồng lao động trong thời gian không quá 36 tháng kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

Như vậy, sắp tới, doanh nghiệp sẽ không được ký hợp đồng lao động theo mùa vụ với người lao động.

4. Về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao đồng

Điều 18 BLLĐ 2019 đã quy định cụ thể người sử dụng lao động được ký hợp đồng gồm:

- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

- Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;

- Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.

Phương Loan

9/7/2020 10:00 AMĐã ban hànhHỗ trợ pháp lý cho DN nhỏ và vừaTinPhòng QLXLVPHC&TDTHPLMột số nội dung doanh nghiệp cần lưu ý khi bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành/HoatDongAnh/2020-09/ngoc07_Key_07092020095350.09_Key_07092020095350.2020_Key_07092020095350.2_Key_07092020095350.jpg
9/7/2020 10:00 AMYesĐã ban hành
Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nayVai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay

Theo khoản 1 - Điều 2 Luật công chứng năm 2014: "Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng".

          Công chứng là hoạt động dịch vụ công đặc biệt phục vụ và tạo ra những bảo đảm, an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch dân sự qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế tranh chấp dân sự góp phần bảo đảm trật tự kinh tế - xã hội. Hiện nay, hoạt động công chứng của nước ta phát triển nhanh chóng, cho thấy sự phát triển của kinh tế xã hội, khi nhu cầu giao kết dân sự của người dân càng tăng cao.  Luật Công chứng năm 2014 cũng có quy định rõ về giá trị pháp lý của văn bản công chứng: "Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏa thuận khác"

          Theo quy định của pháp luật hiện hành: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai". Do vậy, việc có một trình tự ghi nhận tính hợp pháp (công chứng) các giao dịch liên quan đến đất đai (ở đây là quyền sử dụng đất) nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai của cơ quan nhà nước là việc làm cần thiết. Thực tế cho thấy, trong một thời gian rất dài, công tác quản lý đất đai của chúng ta vẫn chưa tốt, còn có nhiều giao dịch về quyền sử dụng đất phát sinh trong Nhân dân mà không được công chứng, chứng thực. Hiện tượng mua đi bán lại bất động sản bằng giấy tay khá phổ biến, đối tượng của giao dịch cũng đa dạng, từ đất ở, đất vườn đến đất nông nghiệp, lâm nghiệp đều có thể được chuyển nhượng. Điều đó làm cho Nhà nước thất thu thuế, các cơ quan nhà nước gặp nhiều khó khăn trong quản lý, Tòa án khó khăn khi giải quyết tranh chấp. Vì vậy, công chứng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch về quyền sử dụng đất, thể hiện ở một số điểm sau:

          + Công chứng sẽ giúp bảo đảm tính hợp pháp của nội dung các giao dịch. Trên thực tế thì cũng còn có một số ít người dân có sự hiểu biết rõ ràng các quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất. Việc công chứng sẽ giúp cho các bên hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong giao dịch về quyền sử dụng đất qua việc tư vấn, giải thích của các tổ chức hành nghề công chứng, cụ thể là của công chứng viên.

          + Việc công chứng còn góp phần hạn chế các giao dịch không có thật, góp phần hạn chế các yếu tố lừa đảo, lừa dối trong các giao dịch về quyền sử dụng đất, nhất là trong các trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập di chúc, giải quyết về thừa kế.... Ví dụ: với sự tham gia của công chứng, các vấn đề như lừa dối trong khi lập di chúc: cưỡng ép người có quyền sử dụng đất lập di chúc giao giao quyền sử dụng đất cho một người nào đó.

          + Việc công chứng sẽ nâng cao giá trị chứng minh của chứng cứ (theo quy định của Luật Công chứng năm 2014 hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng giao dịch được công chứng không phải chứng minh) khi có tranh chấp. Rõ ràng, khi xảy ra tranh chấp, các bên tham gia giao dịch phải đưa ra chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án sẽ dễ xem xét và chấp nhận hơn nếu các giao dịch đó đã được công chứng.

          Trên đây là một số vai trò quan trọng của hoạt động công chứng trong việc giao dịch về đất đai trong xã hội hiện nay./.

 

Yến Linh - Công chứng số 1 đưa tin


11/26/2020 5:00 PMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC1Vai trò của hoạt công chứng trong lĩnh vực đất đai hiện nay/HoatDongAnh/2020-11/cc1_Key_26112020161338.26_Key_26112020161338.11_Key_26112020161338.2020_Key_26112020161338.jpg
11/26/2020 5:00 PMYesĐã ban hành
Tham khảo cách phân biệt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đấtTham khảo cách phân biệt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Trong hoạt động công chứng, ngoài việc kiểm tra năng lực của người yêu cầu công chứng, việc tiếp nhận, kiểm tra các loại giấy tờ liên quan như giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn khác liền với đất … cũng rất quan trọng, góp phần bảo đảm tính an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp phát sinh.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3 Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành theo một mẫu thống nhất và được áp dụng trong phạm vi cả nước đối với mọi loại đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Giấy chứng nhận gồm một tờ có 04 trang, in nền hoa văn trống đồng màu hồng cánh sen (được gọi là phôi Giấy chứng nhận) và Trang bổ sung nền trắng; mỗi trang có kích thước 190mm x 265mm, với các nội dung về Người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về Thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về Sơ đồ thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận.

Với sự phát triển công nghệ như hiện nay, việc in ấn các loại giấy tờ rất tinh vi, bằng mắt thường khó có thể nhận biết đâu là giấy tờ thật, đâu là giấy tờ giả. Qua thực tế công tác tiếp xúc với các Giấy chứng nhận do người yêu cầu công chứng cung cấp, Phòng Công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh đưa ra một số cách nhận biết Giấy chứng nhận thật – giả sau đây để tham khảo:

* Cách 1: Kiểm tra bằng kính lúp

- Giấy chứng nhận thật: được in bằng phương pháp in offset nên màu sắc sắc nét, màu mực đồng màu trên cùng một chi tiết in. 

- Giấy chứng nhận giả: do in màu kỹ thuật số nên chi tiết in không sắc nét, trên cùng một chi tiết in có nhiều hạt mực có màu sắc khác nhau.

          Cách 2: Cảm nhận bên ngoài bằng cách dùng tay sờ vào

- Giấy chứng nhận thật: khi chạm tay lên bờ mặt sẽ cảm nhận được độ nhám trên bề mặt sổ, trên chữ viết.

- Giấy chứng nhận giả: trơn láng, không có độ nhám.

* Cách 3: Bằng đèn pin hoặc những vật phát sáng khác, chiếu xiên một góc 10 – 20 độ với mặt giấy tại vị trí có hình dấu ở góc dưới bên phải của mặt trước.

- Giấy chứng nhận thật: Phần dấu nổi (ở góc dưới bên phải mặt trước sổ hồng) có mã số hiệu được đóng hoặc in vào chính giữa dấu nổi, được tạo ra bằng phương pháp in typo.

- Giấy chứng nhận giả: mã số hiệu được tạo ra bằng phương pháp in màu kỹ thuật số nên mã số hiệu thường bị đóng lệch so với hình dấu nổi, chi tiết lõm, không rõ nội dung.

          * Cách 4: Kiểm tra phôi in Giấy chứng nhận, chữ ký

- Cách kiểm tra này chỉ thích hợp đối với những Giấy chứng nhận được làm từ phôi giả và được in bằng laze. Việc in Giấy chứng nhận giả được thực hiện bằng cách scan Giấy chứng nhận gốc sau đó in ra 2 mặt rồi tiến hành dán lại. Bởi việc in 2 mặt trên cùng một phôi rất khó để canh đều. Chính vì vậy, khi dán 2 mặt của một Giấy chứng nhận lại với nhau rất dễ để lại dấu vết, để khắc phục việc này đối tượng làm giả thường đem ép plastic đối với Giấy chứng nhận.

- Kiểm tra các vị trí có thể bị tẩy xóa cơ học: Số sổ, số vào sổ quyết định, loại đất, thời hạn, hình thức sử dụng, diện tích (bằng số, bằng chữ),... 

*Cách 5: Kiểm tra tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất

- Nếu thấy nghi ngờ Giấy chứng nhận giả thì cách mà chắc chắn và an toàn nhất là hãy mang Giấy chứng nhận đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để kiểm tra là thật hay giả.

 

Phòng Công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh

11/5/2020 9:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC3Tham khảo cách phân biệt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất/HoatDongAnh/2020-11/cc3_Key_05112020084426.05_Key_05112020084426.11_Key_05112020084426.2020_Key_05112020084426.1_Key_05112020084426.png
11/5/2020 9:00 AMYesĐã ban hành
Việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lậpViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập. Cụ thể:

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định là quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục), bao gồm: quản lý các hoạt động giáo dục; thực hiện quy chế dân chủ trong quản lý các hoạt động giáo dục; trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục và người đứng đầu cơ sở giáo dục trong quản lý các hoạt động giáo dục; bảo đảm việc tham gia của học sinh, gia đình và xã hội trong quản lý các hoạt động giáo dục.


11.hong.22.3.2020.jpg

Ảnh minh họa

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là áp dụng đối với nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non); trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học công lập (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục phổ thông); cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Và việc quản lý trong cơ sở giáo dục phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Thực hiện dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch về chất lượng giáo dục và điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục, phù hợp với loại hình nhà trường và quy định của pháp luật về trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục.

-  Thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, giáo dục bắt buộc đối với giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở theo quy định của pháp luật về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.

Về hiệu lực thi hành: Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2021./.

THU HỒNG

4/2/2021 8:00 AMĐã ban hànhTin tức sự kiệnTinThu HồngViệc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ sở giáo dục phổ thông công lập/HoatDongAnh/2021-04/11_Key_02042021074527.hong_Key_02042021074527.22_Key_02042021074527.3_Key_02042021074527.2020_Key_02042021074527.jpg
4/2/2021 8:00 AMYesĐã ban hành
Một số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật Một số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (viết tắt là Nghị định số 154/2020/NĐ-CP). Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Theo đó, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP đã bổ sung thêm một số điểm mới cơ bản như sau:

- Thứ nhất, thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định.

Tại khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định: "Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định theo quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật…".

Trước đây, theo quy định thì Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định theo quy định tại khoản 1 Điều 121 của Luật. Theo đó, khoản 1 Điều 121 của Luật là quy định liên quan đến "dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình". Hay nói cách khác, Hội đồng tư vấn thẩm định chỉ được thành lập "đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo".

Tuy nhiên, quy định hiện hành đã bổ sung thêm trường hợp thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định "đối với quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo quy định tại khoản 1 Điều 130 của Luật". Cụ thể là, khoản 1 Điều 50 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 12 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định như sau: "1. Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo nghị quyết, quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo quy định tại khoản 1 Điều 121 và khoản 1 Điều 130 của Luật…".

Theo đó, Hội đồng tư vấn thẩm định sẽ được thành lập đối với dự thảo nghị quyết, quyết định liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo mà không phải chỉ thảnh lập Hội đồng tư vấn thẩm định đối với dự thảo nghị quyết như trrước đây.

- Thứ hai, kỹ thuật viện dẫn văn bản.

Tại khoản 1 Điều 75 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định như sau: "Khi viện dẫn văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành văn bản; tên cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và tên gọi văn bản".

Về nguyên tắc, khi viện dẫn văn bản có liên quan thì phải viện dẫn đầy đủ. Theo đó, trên cơ sở quy định này, thì việc viện dẫn văn bản phải viện dẫn đầy đủ mà không phân biệt "viện dẫn lần đầu" hay "viện dẫn lần tiếp theo".

Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 75 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16  Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định:

 "1. Khi viện dẫn lần đầu văn bản có liên quan, phải ghi đầy đủ tên loại văn bản, số, ký hiệu văn bản; ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành văn bản; tên cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và tên gọi văn bản. Trong lần viện dẫn tiếp theo, đối với luật, pháp lệnh, ghi đầy đủ tên loại văn bản, tên gọi của văn bản; đối với các văn bản khác, ghi tên loại, số, ký hiệu của văn bản đó".

Theo đó, trên cơ sở quy định hiện hành, khi "viện dẫn lần đầu" thì phải ghi đầy đủ nhưng đến "lần viện dẫn tiếp theo" thì có thể viện dẫn ngắn gọn hơn mà không cần phải chú thích viết tắt./.

                                                                                                   Ngọc Giàu

1/15/2021 4:00 PMĐã ban hànhRà soát, hệ thống hóa VBQPPLTinNgọc GiàuMột số điểm mới của Nghị định số 154/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật /HoatDongAnh/2021-01/giau15_Key_15012021154250.1_Key_15012021154250.2021_Key_15012021154250.2_Key_15012021154250.jpg
1/15/2021 4:00 PMYesĐã ban hành
Cẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyềnCẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyền

Hiện nay, tình trạng mua bán nhà đất qua hợp đồng ủy quyền khá phổ biến bởi thủ tục mua bán nhanh gọn. Thực ra, đây là một loại giao dịch giả tạo để che đậy một giao dịch khác nhằm mục đích "né" thuế.

Với hợp đồng ủy quyền, người có tài sản và Quyền sử dụng đất ủy quyền cho một người khác được phép bán tài sản và Quyền sử dụng đất. Người mua chính là người được ủy quyền nhưng không muốn làm thủ tục sang tên mà chờ tìm người mua tiếp theo.

Như trường hợp một số cá nhân kinh doanh bất động sản đến từ các tỉnh khác, lợi dụng người dân không am hiểu pháp luật hợp thức hóa việc chuyển nhượng bằng các hợp đồng ủy quyền được công chứng. Kiểu giao dịch này gây khó khăn trong công tác quản lý đất đai và quản lý thuế. Vì nếu thông qua việc làm thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật thì các bên giao dịch phải nộp thuế thu nhập cá nhân 2% và lệ phí trước bạ 0,5%.

Bản chất hợp đồng ủy quyền

Về vấn đề này, văn bản ủy quyền (hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền) được thực hiện theo Bộ Luật Dân sự và Luật Đất đai, Luật Nhà ở. Việc liên quan đến chuyển nhượng thì bắt buộc văn bản ủy quyền phải được công chứng (Phòng/Văn phòng công chứng) hoặc chứng thực (UBND cấp xã/phường).

Đối với các bên, bên được ủy quyền có trách nhiệm thực hiện công việc trong phạm vi ủy quyền và bên ủy quyền chịu trách nhiệm về kết quả của công việc. Ngoài ra, các bên còn phải chịu sự điều chỉnh chung về quyền và nghĩa vụ dân sự. Đối với việc ủy quyền có quy định cho phép ủy quyền lại thì việc ủy quyền lại còn chịu sự quy định điều chỉnh về chuyển giao quyền yêu cầu, chuyển giao nghĩa vụ (Điều 365 – Điều 370 Bộ Luật Dân sự).

Hình thức hợp đồng ủy quyền được quy định tại Điều 562 – Điều 569 Bộ Luật Dân sự, trong đó có quy định việc ủy quyền lại phải có sự đồng ý của bên ủy quyền (Điểm a Khoản 1 Điều 564). Tuy nhiên, trên thực tế, các đơn vị công chứng đang cố ý không thực hiện đúng quy định, khi lập văn bản ủy quyền lại hoàn toàn không có xác thực sự đồng ý của bên ủy quyền.

Mặc dù hợp đồng ủy quyền có quy định cho phép bên nhận ủy quyền được ủy quyền lại nhưng đây chỉ là "thỏa thuận" tại thời điểm lập hợp đồng ủy quyền thứ nhất. Đây chỉ là quyền, phạm vi ủy quyền chứ không phải là "sự đồng ý" của bên ủy quyền. Bên ủy quyền phải được biết và được quyền đồng ý hay từ chối khi bên nhận ủy quyền lại là ai.

"Bản chất của việc ủy quyền là thông qua người khác để thực hiện công việc thuận lợi hơn, nhanh chóng hơn, ít chi phí hơn hoặc thậm chí là vì hoàn cảnh đặc biệt như chủ sở hữu là nhiều người, ở xa, đi làm ăn ở xa,… và với điều kiện uy tín, nhận thức, điều kiện của người nhận thực hiện công việc ủy quyền. Nếu lạm dụng quá sẽ có nhiều rủi ro không những cho người ủy quyền (bị ép với giá rẻ, bị siết nợ khi vay tiền,…) mà người mua là người chịu rủi ro khi tiền mất mà tài sản có thể không được nhận, không được sử dụng".

Với các giao dịch ủy quyền cho người khác thực hiện công việc không phải là hoạt động chuyển nhượng bất động sản nên không chịu thuế thu nhập cá nhân. Trên thực tế, nhiều người giao dịch chuyển nhượng bất động sản bằng hợp đồng ủy quyền nhưng thực chất chỉ là các giao dịch giả cách. Nếu nhìn vào cũng thấy các dấu hiệu như nội dung phạm vi ủy quyền rất chung chung và không xác định giao dịch cụ thể, khá mập mờ…

Rủi ro và những lưu ý

Về những rủi ro có thể gặp khi giao dịch qua hợp đồng ủy quyền, theo quy định giao dịch ủy quyền lần thứ nhất đã có những rủi ro nên với các giao dịch ủy quyền lại thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro cao hơn.

Rủi ro từ bên bán: Bên cạnh những nguy cơ như các giao dịch thông thường thì còn có nhiều rủi ro do bị che giấu thông tin như không kiểm tra được hồ sơ gốc về bên bán, có sự thay đổi giấy tờ cá nhân người ủy quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền, người ủy quyền mất thì giao dịch ủy quyền không còn giá trị …

Rủi ro giao dịch giả cách: Với giao dịch giả cách mua bán, chuyển nhượng nhưng bằng văn bản ủy quyền lại thì dễ bị tuyên hợp đồng vô hiệu, tài sản bị diện tranh chấp, bị diện tẩu tán tài sản trốn tránh thi hành án,…

Rủi ro từ người được ủy quyền (ủy quyền lần thứ nhất) và người được ủy quyền lại: Những rủi ro giữa họ, rủi ro về người được ủy quyền lại mà chính bên bán cũng không biết họ là ai, họ đã làm gì đối với tài sản của bên bán hoặc bên chuyển nhượng.

"Những giao dịch ủy quyền và ủy quyền lại nếu gặp những giao dịch mà người được ủy quyền lạm quyền vượt quá phạm vi ủy quyền hoặc giao dịch giả cách hoặc kể cả trường hợp có tội phạm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, làm tài liệu giả,…) thì việc giải quyết sẽ rất khó vì không xác minh và điều tra được họ khi họ đã ôm tiền và cao chạy xa bay".

Để tránh những nguy cơ bị mất trắng khi giao dịch mua bán hoặc chuyển nhượng nhà đất bằng hình thức này, người mua cần hết sức cẩn trọng vì việc ủy quyền lại cho dù đúng bản chất cũng dễ gặp rủi ro. Với giao dịch giả cách mua bán nhưng bằng văn bản ủy quyền lại thì dễ bị Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu, tài sản bị diện tranh chấp, bị diện tẩu tán tài sản trốn tránh thi hành án,….

Bên mua hoặc bên nhận chuyển nhượng cần kiểm tra đúng bản chất bên bán hoặc bên chuyển nhượng không có điều kiện trực tiếp giao dịch, có hoàn cảnh đặc biệt nên mới phải ủy quyền và ủy quyền lại. Ví dụ: Cha, mẹ do điều kiện ở xa, già yếu… thì có thể ủy quyền cho con để đại diện; Vợ và chồng ủy quyền cho nhau; anh chị em ủy quyền cho nhau.

Bên mua cần liên hệ trực tiếp bên bán và bằng chứng xác nhận chính thức từ bên bán thông qua điện thoại, email hoặc có các văn bản từ người thân để được xác thực.

"Khi đề nghị chuyển tiền trực tiếp qua ngân hàng cho người bán để đảm bảo không bị người được ủy quyền lạm quyền vượt phạm vi ủy quyền và là cách kiểm tra ủy quyền thật hay chỉ là ủy quyền cho giao dịch giả cách".

                                                                                                            Tác giả Nguyễn Chí Thiện

                                                                                                    Phòng công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh

                                                                                                        (Sưu tầm từ trang www.cafeland.vn)

3/12/2021 9:00 AMĐã ban hànhTin Công chứngTinCC3Cẩn thận khi mua bán Tài sản, chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua hợp đồng ủy quyền/HoatDongAnh/2021-03/cc3_Key_12032021090142.3_Key_12032021090142.2020_Key_12032021090142.jpg
3/12/2021 9:00 AMYesĐã ban hành
Đoàn Luật sư Tây Ninh tổ chức thành công Đại hội toàn thể luật sư nhiệm kỳ 2018 - 2023Đoàn Luật sư Tây Ninh tổ chức thành công Đại hội toàn thể luật sư nhiệm kỳ 2018 - 2023

Ngày 17 tháng 5  năm 2019 Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh tổ chức Đại hội toàn thể luật sư  nhiệm kỳ 2018 - 2023 với sự tham dự của 59/65 luật sư của Đoàn. Đại hội toàn thể luật sư tỉnh Tây Ninh đã vinh dự được đón tiếp Ls.Ts Phan Trung Hoài,  Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam; Ông Nguyễn Thanh Ngọc – Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy - Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đến dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội; ông Võ Xuân Biên - Phó Giám đốc phụ trách Sở Tư pháp. Đến dự Đại hội còn có đại diện các cơ quan, ban, ngành tỉnh, gồm: Ban Nội chính Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Công an tỉnh tây Ninh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Tây Ninh.

bttpthang5.2019.1.jpg

Đại hội làm việc với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm với sự cố gắng của toàn thể các thành viên Đoàn luật sư và đã thành công tốt đẹp. Đại hội nghiêm túc đánh giá về những thành công và những tồn tại hạn chế của nhiệm kỳ 2013 - 2018, trên cơ sở đó đề ra Phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho nhiệm kỳ 2018 - 2023, trong đó nhấn mạnh những giải pháp để nâng cao chất lượng và số lượng luật sư trong thời gian tới.

bttpthang5.2019.2.jpg 

Đại hội toàn thể luật sư đã bầu Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư nhiệm kỳ mới gồm có 03 luật sư:Vương Sơn Hà, Phạm Văn Tình và Luật sư Nguyễn Thế Tân, với sự tín nhiệm của các luật sư tại Đại hội, Luật sư Vương Sơn Hà được bầu làm Chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Đại hội toàn thể luật sư cũng đã bầu Hội đồng khen thưởng, kỷ luật kỷ luật nhiệm kỳ 2018 – 2023 gồm 05 luật sư: Luật sư Lâm Tấn Đông,  Dương Mỹ Hạnh, Phan Văn Vĩnh, Nguyễn Quốc Khánh và luật sư Nguyễn Văn Từ. Luật sư Lâm Tấn Đông được bầu làm Chủ tịch Hội đồng khen thưởng –Kỷ luật

Để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ III tại Hà Nội, Đại hội đã bầu đại biểu dự đi đại hội như sau: Đại biểu chính thức được bầu là luật sư: Phạm Văn Tình; Đại biểu dự khuyết là luật sư: Nguyễn Thế Tân. Ngoài ra còn có Luật sư Nguyễn Văn Re và Luật sư Vương Sơn Hà là đại biểu đương nhiên của Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ III.

Sự thành công của đại hội sẽ góp phần vào việc kiện toàn, đổi mới về mặt tổ chức để Đoàn luật sư tỉnh Tây Ninh tiếp tục phát triển vững mạnh trong nhiệm kỳ 2018 – 2023.

Phòng Bổ trợ Tư pháp

5/28/2019 4:00 PMĐã ban hànhTin Luật sưTinBTTPĐoàn Luật sư Tây Ninh tổ chức thành công Đại hội toàn thể luật sư nhiệm kỳ 2018 - 2023/HoatDongAnh/2019-05/bttpthang5_Key_28052019154639.2019_Key_28052019154639.1_Key_28052019154639.jpg
5/28/2019 4:00 PMYesĐã ban hành
1 - 30Next