Tin tức
Thứ 6, Ngày 15/01/2021, 16:00
Áp dụng chế định “Lẽ công bằng” theo Bộ luật tố tụng Dân sự 2015
Cỡ chữ: Font size: Giảm (A-) Mặc định (A) Tăng (A+)
15/01/2021 | TGPL

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (viết tắt là BLTTDS 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01.7.2016, có những chế định mới liên quan trực tiếp tới công tác xét xử các vụ án dân sự, trong BLTTDS 2015 có một chế định pháp lý rất mới, đó là Lẽ công bằng. Đây là khái niệm chưa từng thể hiện trong các văn bản pháp luật. 

Không phải tự nhiên mà BLTTDS 2015 lại có một khái niệm mới mẻ về lẽ công bằng như vậy. Điều này vốn xuất phát từ Hiến pháp năm 2013, một đạo luật quan trọng nhất trong hệ thống văn bản pháp luật nước ta đã quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật.

Theo Điều 45, BLTTDS 2015 thì "Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó".  Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật.

Như vậy, lẽ công bằng bây giờ không phải chỉ là phạm trù đạo đức hay là nhận thức chủ quan của thẩm phán nữa mà là những khuôn khổ pháp luật được khuôn định bởi BLTTDS 2015 và bắt buộc phải áp dụng nếu có đủ điều kiện để xử án. Theo đó, khi có những vụ việc dân sự, mặc dù pháp luật không quy định, không có các điều luật để áp dụng, không có tập quán, tương tự pháp luật hay án lệ thì Tòa án vẫn phải thụ lý giải quyết, và việc giải quyết này sẽ được thực hiện theo nguyên tắc "Lẽ công bằng".

Vừa qua, một TAND huyện trong tỉnh đã xét xử một vụ án, áp dụng chế định lẽ công bằng như nêu trên. Trong thời gian sống chung với anh T và chị L (Chị L là vợ sau của anh T), cháu A và cháu B thường bị anh T và chị L nhiều lần đánh đập, hành hạ. Năm 2019, anh T bị TAND tỉnh hạn chế quyền của cha đối với con chưa thành niên, không cho trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng của cháu B hoặc đại diện theo pháp luật cho cháu B trong thời hạn 3 năm. Tòa án cũng giao cháu B cho bà ngoại của cháu B nuôi dưỡng, là người đại diện cho cháu theo quy định của pháp luật.

Cháu B có một phần tài sản được hưởng thừa kế từ mẹ ruột do anh T quản lý vì cháu B là người dưới 18 tuổi (Do trước đây đã thực hiện thủ tục thỏa thuận phân chia di sản). Anh T là người đại diện pháp luật đứng tên trên suất thừa kế của cháu B với điều kiện phải sử dụng tài sản trên để nuôi dưỡng, chăm sóc lo cho cháu ăn học khi đến tuổi trưởng thành và với sự giám sát của A chị gái của B. Tuy nhiên, anh T không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của cha đối với con, không nuôi dưỡng con ruột và hành hạ, đánh đập cháu B.

Vì vậy, bà ngoại của cháu B khởi kiện yêu cầu anh T trả lại tài sản là quyền sử dụng đất cho cháu B. Trong khi đó anh T cho rằng cháu B là trẻ em, chưa đến 18 tuổi nên không trả lại phần đất thừa kế cho cháu, nếu có trả thì buộc cháu B phải thanh toán lại công trình phụ, cây trái trên phần đất đang tranh chấp vì anh đã đầu tư canh tác tốn rất nhiều công sức và tiền bạc.

Tòa án nhận định, sau khi mẹ cháu B chết, anh T đã không làm tròn nghĩa vụ nuôi dưỡng nên cháu B về sống với bà ngoại. Anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con trong khi anh sử dụng phần đất cháu B được thừa kế cũng như những di sản mà mẹ cháu B để lại có thu nhập hàng ngày. Khi anh T xây dựng và trồng cây trên đất đã không thông qua ý kiến của người giám sát là cháu A (cháu A là chị ruột của cháu B, được Tòa án giao quyền giám việc anh T sử dụng tài sản của cháu B). Đồng thời vì tình nghĩa cha con, cháu B là trẻ em, không thể tự mình lao động để nuôi sống bản thân mà phải sống phụ thuộc vào bà ngoại nuôi dưỡng nên không có tiền để trả lại cho anh T.

Khi buộc anh T giao trả đất cho cháu B, Toà án có xem xét đến việc không phải thanh toán lại cho anh T tiền giá trị công trình xây dựng và cây trái trên đất. Bởi lẽ, trong quá trình anh T và chị L sử dụng diện tích đất, cây trái trên đất có một phần là di sản của mẹ cháu B để lại nhưng bà ngoại cháu B, cháu A không yêu cầu chia mà để lại cho anh T sử dụng. Hơn nữa, anh T không làm tròn nghĩa vụ làm cha, không cấp dưỡng nuôi con nhưng bà ngoại cháu B vẫn không yêu cầu. Để bảo vệ quyền và lợi ích cho con chưa thành niên, cháu B là trẻ em và theo "Lẽ công bằng" thì những tài sản trên đất nằm trong phần diện tích giao cho cháu B được quyền quản lý mà không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán lại cho anh T và chị L là phù hợp.

                                                                     Ngọc Linh

Lượt người xem:  Views:   419
Chia sẻ:
Share:
Tin khác
 
 
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Số Trang

Số Ảnh

Số tiền

Tin liên quan

Audio

Từ khóa

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Tin tức